Chủ Nhật, 26 tháng 9, 2010

MẤY LỜI KHUYÊN SINH VIÊN Y KHOA

VÀI LỜI GIỚI THIỆU VẾ BS NGUYỄN HỮU PHIẾM
Bác sĩ Nguyễn Hữu Phiếm là một Tiến sĩ Y khoa tốt nghiệp tại Pháp, không rõ sinh năm nào, chỉ biết ngày 1-7- 1949 được bổ nhiệm làm Bộ Trưởng Y Tế thời chính phủ Bảo Đại. Ông hoạt động trong nhiều lĩnh vực Giáo dục Chính trị, Văn Học, có nhiều bài viết trên các báo thời Pháp thuộc, quen biết với nhiều người trong các giới chính quyền cũng như các văn nhân, nghệ sĩ. Ông có mở phòng mạch ở Đà Lạt, rất được nhân dân thương mến vì tận tụy với bệnh nhân, nhất là bệnh nhân nghèo. Nơi đây ông là bạn chí cốt với nhà văn đứng đầu nhóm Tụ Lực Văn Đoàn là Nhất Linh Nguyễn Tường Tam. Khi Nhất Linh tự vẫn do chống chính quyền Diệm ông tận tình theo sát tới khi Nhất Linh mất. Vì nổi tiếng liêm khiết và hết lòng với bệnh nhân nên ở Đại Học Y khoa Huế ông được cử làm giáo sư phụ trách giảng dạy môn Nghĩa Vụ Luận. Năm 1968 trường Đại Học Y Khoa Saigon mời ông diễn thuyết về đạo đức y khoa tại trường này. Tài liệu hôm nay chính là bản văn ông diễn thuyết ngày đó. trích trong cuốn Lời khuyên sinh viên Y Khoa do ông chủ biên và do trung tâm học liệu bộ Giáo Dục xuất bản năm 1972. Tôi xin chép lại cho các bạn xem. Những ý tưởng trong bài tôi đã đọc trên 30 năm hôm nay xem lại thấy như mới, vô cùng cảm động. Các bạn hãy giữ nó làm chỉ nam giống như tôi đã giữ nó trên 30 năm nay. Đối với những người đồng cảm thì những lời trong bài “ngân lên vang vọng hòa nhịp với con tim người xem, gây ra một cảm giác không gì sánh được”.
Khác với các bài giáo điều BS Phiếm trình bày bài nói chuyện rất chân tình, thực tế. Tác giả nhấn mạnh đến khía cạnh TRÁCH NHIỆM chính điều này đã làm nghề y khác hẳn những nghề khác, vinh nhục cũng từ đó mà ra. Nhiều người từ góc độ của nghề khác phê phán so bì với ngành y chúng ta, họ quên rằng bản chất của nghề y hoàn toàn khác hẳn các nghề khác. Mong rằng các bạn khi đọc xong lời khuyên này thì hãy còn chút gì đấy đọng lại trong tâm tư, đừng để gió cuốn đi.
Vì bài khá dài nên tôi xin trích đăng làm vài kỳ để các bạn “tiêu hóa” dần dần, nhân tiện chú thích một số danh từ hay ý niệm hơi xưa cho rõ nghĩa.

MẤY LỜI KHUYÊN SINH VIÊN Y KHOA

 BS Nguyễn Hữu Phiếm
(Buổi nói chuyện do trường Đại Học Y khoa Huế tổ chức ngày 29-6-1968 Tại Trung Tâm Y Khoa Đại Học SAIGON)
Các bạn sinh viên thân mến.
Nghề thuốc mà các bạn đã chọn là một nghề cao đẹp nhất, và chính để chứng tỏ điều đó nên mới có buổi nói chuyện hôm nay một buổi nói chuyện thân mật giữa một người thày thuốc-đã hành nghề trên 30 năm-với những người thày thuốc tương lai, giữa một người anh cả với các em sắp sửa vào nghề, bởi dù muốn dù không các bạn và tôi, chúng ta từ bao nhiêu thế hệ nay đã được coi như thuộc về một gia đình-đại gia đình y giới- và riêng về điểm đó, ngay từ bây giờ, các bạn đã thấy nghề thuốc không giống như các nghề tự do khác.
Các bạn thân mến.
Các bạn đã chọn nghề thuốc với tất cả một tấm lòng nhiệt hứng, hăng say của tuổi thanh xuân, nhưng thử hỏi đã mấy ai chịu tìm hiểu những lý do thúc đẩy mình vào con đường ấy?
Có một số bạn trẻ chọn nghề này, coi như một lẽ đương nhiên để nối nghiệp cha anh đã từng là thầy thuốc.
Có một số, vì ham thích và cũng như mọi ham thích, khó lòng mà giải thích được tại sao. có thể vì hồi nhỏ ốm đau, đã được người thày thuốc tận tâm săn sóc, hoặc được mục kích những cảnh thập tử nhất sinh mà được bàn tay người bác sĩ cứu sống.
Đối với một số nữa-rất hiếm- có lẽ làm nghề thuốc vì đó là một thiên chức (une vocation): ngoài mảnh bằng bác sĩ để hành nghề ra, còn muốn làm một cái gì khác nữa, như trở thành một nhà khảo cứu, một vị bác học hoặc một giáo sư đại học.
Thiên chức theo định nghĩa, là một tiếng nói tự đáy lòng phát ra, nó thúc giục ta làm một việc nào đó, Giáo sư Maranon bảo là: ”một loại đam mê có tính chất của tình thương, kẻ nào có một thiên chức coi vật mình yêu như một mụa đích độc hữu, không thể chia xẻ được. Họ phụng sự mối tình yêu đó mà tuyệt đối không vụ lợi” và vẫn theo lời Maranon “sở dĩ nghề thuốc suy đồi vì thanh niên, khi chọn nghề đó không phải vì có thiên chức thật sự, mà chỉ vì hy vọng có một địa vị cao sang”.
Người ta đã điều tra một số sinh viên y khoa để biết tại sao họ chọn nghề thuốc: trong số 100 sinh viên có tới 70 người trả lời: Không biết. Còn lại 30 có người bảo: học thuốc để tìm những thỏa mản tri thức, hoặc vì có một niềm tin hoặc vì nghề đó đã danh giá lại kiếm được nhiều tiền
Tôi biết một số thanh niên sau khi đậu xong Tú Tàilưỡng lự không biết chọn ngành nào ở Đại Học bèn chọn đại Y khoa vì nghe lời cha mẹ hoặc họ hàng thân thuộc-những người này không phải là thày thuốc, không hiểu nghề thuốc là gì mà chỉ nhìn thấy một khía cạnh sai lầm là: nhà lầuxe hơi tiền bạc…. Những người đó xem nghề thuốc như nghề đi buôn và cho rằng học hành vất vả mới giật được mảnh bằng bác sĩ thì dĩ nhiên phải được đền bù xứng đáng, phải được thụ hưởng. Còn bổn phận của mình những gì, trách nhiệm ra sao họ đâu có biết hoặc nghĩ tới?Đối với hạng người này tôi xin nhắc lại ở đây câu nói của P. Le Gendre”
“Kẻ nào chỉ làm nghề thuốc với hi vọng làm giàu, kẻ đó sẽ thất vọng, vì nghề thuốc chỉ được trọng vọng khi nào chúng ta có một tinh thần vị tha, hỉ xả. ”
Các bạn thân mến
Khi các bạn chọn nghề này, dĩ nhiên là để sinh sống, để nuôi gia đình, để hưởng một đời sống sung túc. tuy nhiên chúng ta không được quan niệm nghề thuốc như một nghề để làm tiền, vì nếu các bạn hành nghề đúng đắn ít khi các bạn có thể giàu được.
Ngoài vấn đề mưu sinh ra tất còn có một lý do nào khác nữa nó thúc đẩy các bạn lựa chọn cái nghề đó. Tôi không dám dùng những danh từ quá to tát như: “cứu nhân độ thế” mà chỉ nói; sở dĩ làm nghề thuốc là để mong xoa dịu được phần nào những đau khổ của đồng bào, muốn giúp ích cụ thể cho xã hội.
Có bạn học thuốc, như trên vừa nói, để thỏa mãn tri thức, thỏa mãn sự tò mò, những biết những kỳ quan của bộ máy con người ta, muốn tháo nó ra từng mảnh để xem bên trong có những gì, tại sao nó chạy, hoặc muốn tìm cho ra hạt bụi nào đó đã làm cho bộ máy kia tắc, rồi ngưng chạy…
Đối với sinh viên y khoa, còn gì vui sướng và hồi hộp bằng lần đầu tiên ở trong bệnh viện, chỉ nhờ có nghe và gõ lên ngực bệnh nhân mà đã đoán được rằng trong màng phổi có nước và khi lấy chiếc kim chọc vào phổi thì quả nhiên thấy có nước thật.
Không những học để biết mà còn để phụng sự nữa. Còn niềm vui gì bằng sau một thời gian vật lộn với tử thần người thầy thuốc đã đẩy lui được bệnh và trao trả cho bà me đứa con thân yêu của bà.
Người ta muốn phê bình sao thì phê bình, một người thày thuốc sau một ngày làm lụng vất vả, bảo họ “hái ra tiền” chẳng hạn, nhưng tôi dám chắc ngoài việc chữa bệnh ra, còn phải có những động cơ nào khác nó thúc đẩy họ chứ không riêng gì tiền bạc. Họ không thể không băn khăn lo lắng mỗi khi rời một căn nhà, trong đó có một tính mạng đang bị đe dọa, hoặc đó là tính mạng của một người cha, cột trụ của cả một gia đình, hoặc tính mạng của một người mẹ với đàn con thơ dại đang cần có người săn sócdạy dỗ, hoặc tính mạng của một đứa hài nhi, chỉ có quyền sống chứ không được chết yểu…
Mối băn khăn đó đôi khi còn ám ảnh người thày thuốc trong bửa ăn giấc ngủ của họ.
Người thày thuốc không thể không có những suy tư sau khi ngồi bên giường bệnh kiên nhẫn nghe lời kể lể tâm sự của thân chủ mình, rồi cố tìm một lời nói dịu dàng để khuyên nhủ, ngõ hầu xoa dịu được phần nào những nỗi khổ đau về tinh thần, những khắc khoải hoặc dằn vặt của một lương tâm đang bị cắn rứt….
Người thày thuốc không những chỉ đem lại cho ta sức khỏe, họ giúp ta sống đã đành nhưng nhiều khi họ giúp ta nhắm mắt cho yên nữa.
Chữa khỏi đã vậy, nhưng còn những khi thất bại ?
Đã mấy ai thấu hiểu được nỗi khổ của người thày thuốc, dù ham tiền mấy đi nữa, sau khi thâu canh ngồi bên một sản phụ, những mong cứu sống được cả mẹ lẫn con, hoặc ít nữa một trong hai người, nhưng rút cuộc không cứu nỗi ai hết. Và trong khi người thày thuốc ấy, khác nào một kẻ bại trận, rửa tay-hai bàn tay đẩm máu và rung lẩy bẩy- thu xếp đồ dùng cho vào cặp rồi lủi thủi ra về, mặt mũi phờ phạ, đầu chóang mắt hoa, có những con mắt ngấn lệ, đầy đau thương, có khi đầy oán hận, nhìn theo và biết đâu không lên án họ. ? Ôi, VINH NHỤC của nghề thuốc!
Người ta muốn phê bình người thày thuốc ra sao tùy ý, nhưng tôi dám chắc, trong khi hành nghề, họ không thể không có một niềm tin, một tia hi vọng, một ngọn lửa thiêng nào đó trong lòng. Nói tóm lại, thế nào họ cũng phải có một nhiệt hứng khiến họ cảm thấy sung sướng khi tìm ra căn bệnh. Một niềm vui khi phụng sự và thành công.
Duhamel đã nói”Không có nghề nào cao đẹp và buồn bằng nghề thuốc, một nghề đói hỏi nhiều bổn phận, nhiều trách nhiệm tinh thần, nhưng chính trách nhiệm đó, nhất là trách nhiệm tinh thần, nó làm cho nghề chúng ta cao đẹp. ”
Những trách nhiệm của người thày thuốc ở vào thời đại này rất nặng nề, vì không nói tất các bạn cũng rõ là chúng ta hiện đang sống trong một kỷ nguyên thật là huyền ảo, khoa học tiến quá mau, ngoài sức tưởng tượng của con người, ” đã làm cho chúng ta trở thành những bậc THẦN THÁNH trước khi chúng ta xứng đáng làm người”(Jean Rostand)
Thật thế: chỉ trong vòng ba bốn chục, y học đã tiến triển và khác hẳn bốn ngàn năm trước và nếu ngoảnh lại nhìn chặng đường đã qua, chúng ta không thể không giật mình kinh ngạc.
Giáo sư Jean Bernard đã viết không phải là quá đáng:
‘”Một người thày thuốc ở thời tiền chiến, vắng mặt sau một thời gian 30 năm và nay trở vềsẽ bở ngở không khác gì một bạn đồng nghiệp của ông sống dưới thời Hippocrate nay tái sinh trước ngày thế chiến thứ hai
Tuy nhiên chúng ta những kẻ hậu sinh, không được quên ơn các bậc tiền bối đã có công lớn với y học, hoặc ít ra cũng nhớ đến tên tuổi những vị đó, như Pasteur, Claude Bernard, Lister, Yersin, Fleming …vv.

Nói về ngoại khoacách đây trên 40 năm một danh y về khoa giải phẫu, giáo sư J. L Faure trong bài diễn văn khai mạc một cuộc hội nghị quốc tế đã nói:
Ngày nay khoa giải phẫu đã lên tới chỗ tuyệt đỉnh rồi, khó lòng mà tiến hơn nữa
Tuy nhiên trên lãnh vực y khoa, ai dám tự hào mình là một nhà tiên tri, và ngày nay -1968- chúng ta có thể lập lại câu nói và biết đâu trong vài ba năm nhận xét của chúng ta lại không đúng nữa.
Các bạn tất đã biết nhờ có thuốc mê (tìm ra năm 1816 ở Hoa Kỳ) mà người ta có thể giải phẫu với những điều kiện mới. Nhất là sau cuộc cách mạng do Pasteur khởi xướng, cho biết nguyên nhân của phần nhiều bệnh là vi trùng, rồi nhờ có phương pháp sát trùng (antiseptie) của Lister, nhất là phương pháp phòng hủ (asepsie) của Terrier, số người chết đi vì giải phẫu giảm đi rất nhiều. Đồng thời các nhà giải phẫu táo bạo hơn, dám đi sâu vào trong cơ thể, nào mổ ruột, mổ dạ con, nào giải phẫu xương, khớp xương, …vvv
Mặc dầu khoa giải phẫu tiến bộ rất mau, mặc dầu kỹ thuật giải phẫu đã được hoàn bị, vẫn còn có người chết vì giải phẫu do những xáo trộn trong cơ thể. Quan trọng hơn hết là xáo trộn sinh lý (desordres biologiques) gây ra một loại bệnh hậu giải phẫu( maladie post-operatoire) Bệnh này được nghiên cứu kỹ càng để dần dà đưa tới phương pháp hồi sinh (reanimation) một phương pháp ngày nay rất thông dụng, không những ở ngoại khoa mà còn ở nội khoa nữa.
Một trong những kỹ thuật kỳ lạ nhất của khoa gây mê là đông miên nhân tạo (hibernation artificielle) và nhờ phương pháp này, người ta có thể giải phẫu tim được.
Một đàng, nhờ có phương pháp hồi sinh và thuốc mê, đàng khác nhờ có thuốc trụ sinh-mỗi ngày một nhiều-nhờ có thuốc ngăn đông huyết (anticoagulants) và sau hết nhờ tiếp máu, có khi thay cả máu nữa, mà khoa giải phẫu đã đi vào những con đường mà từ xưa tới nay không ai dám nghĩ tới như là mổ phổi để rồi cắt đi, mổ óc, tủy, xương sống, giao cảm thần kinh (sympathique) hoặc ghép mạch máu, ghép xương, ghép mắt, ghép thận …vv. Mới đây các bạn còn nghe nói về những vụ thay tim làm chấn động dư luận thế giới và khiến mọi người phải kinh ngạc và thán phục vô cùng.
Bên cạnh những thành công rực rở đó nội khoa cũng phát triển rất nhanh.
Nhờ có thuốc trụ sinh, phát minh vào cuối thế chiến thứ hai, nhiều bệnh truyền nhiễm như thương hàn, giang mai…. đã bị đẩy lui.
Nhờ có Penicilllin-do Fleming tìm ra- nhiều loại vi trùng như: pneumocoque, streptocoque, méningocoque. đã bị tiêu diệt và nhiều bệnh phổi, bệnh đau màng óc cấp tính, bệnh lậu, có thể trị được, cũng như bệnh đau tim do vi trùng streptocoque viridans-còn gọi là bệnh Osler- mà xưa kia y học đã phải bó tay.
Còn nhiều trụ sinh khác cũng được khám phá và đáng kể nhất là streptomycine-do Waksman tìm ra năm 1943- rất công hiệu để trị bệnh lao, một trong tứ chứng nan y của ta. Lần đầu tiên bệnh nguy hiểm này đã bị đánh bại.
Ngoài trụ sinh ra, người ta còn tìm ra được nhiều loại thuốc hóa học nữa, trong đó phải kể Isoniazide rất thông dụng từ năm 1952 để chữa bệnh lao, song song với streptomycine và nhiều thuốc khác như Chlopromazine (largactyl) để trị các bệnh thần kinh. Từ ngày có thuốc này và những thuốc mới như resepine, tại các dưỡng đường điều trị người điên, loạn óc, ta không còn chứng kiến những cảnh huyên náo nữa, và nhất là bệnh nhân không còn bị đối xử như những con thú vật, mỗi khi lên cơn điên, bị nhốt trong chuồng sắt, chân tay bị trói chặt, như cách đây trên 30 năm, hồi tôi còn là sinh viên.
Chúng ta cũng thể quên được những khám phá quan trọng trong ngành học về những bệnh do siêu vi trùng gây ra, và nên biết rằng ngày nay, nhờ có thuốc chích hoặc uống thuốc phòng ngừa mà nhiều bệnh như bệnh tê liệt (poliomyélite) có thể tránh được, cũng như bệnh cúm(grippe) bệnh sởi (rougeole). . vv
Những bệnh truyền nhiễm ghê gớm như bệnh tả (choléra) bệnh dịch hạch (pest) bệnh cùi (hủi) bệnh hoàng đản (fièvre jaune) không còn là mối lo cho nhân loại như hồi xưa nữa. Và những bệnh như bệnh ngủ (maladie du sommeil) ở Phi châu, bệnh sốt rét cơn (paludisme) cũng đã bị đẩy lui. Nhờ có bột DDT mà hàng chục triệu người đã không mắc bệnh sốt rét cơn.


Các bạn thân mến.
Tôi không thể kê khai hết ở đây tất cả những phát minh khác của y học trong mấy năm vừa rồi, như: sinh tố, kích thích tố( đặc biệt là cortisone, A. C. T. H ) hoặc nói đến những phương pháp tối tân để định bệnh bằng quang tuyến, bằng isotope. . vv mà chỉ nhấn mạnh tới những khám phá quan trọng trên lãnh vực trị liệu thôi.
Đời sống trung bình của con người cách đây hai thế kỷ là 35 năm, nay lên tới 70, và có lẽ chỉ trong vài chục năm nữa số người thọ 100 tuổi là thường.
Nhưng chúng ta đừng quá lạc quan và yên trí rằng bất cứ bệnh nào cũng có thể trị được dù y học tiến bộ mấy đi nữa, hiện nay vẫn còn có một số bệnh mà người ta vẫn chưa tìm ra được nguyên nhân, như bệnh tê thấp, bệnh chai động mạch(arterio-sclerose), bệnh ung thư máu (leucemie)…Còn đối với những bệnh ở thần kinh hệ do siêu vi trùng gây ra (virus neurotrope) chúng ta vẫn còn …. . bất lực.
Y học hiện nay vẫn chưa có thuốc để cho ta khỏi già. Không những đừng quá lạc quan mà còn phải biết những nguy hiểm và những bệnh do chính thuốc gây ra (maladies thérapeutiques). Giáo sư Michel Conte đã nói:
Hiện nay chúng ta đang đứng trước một bi kịch mà chúng ta không phải là khán giả. Chúng ta bị lôi cuốn vào trong một cơn gió lốc, và chúng ta phải chữa bệnh, tức là phải lực chọn những thứ thuốc mới, và cái đó không phải là chuyện dễ. Chưa bao giờ quyền lực của người thày thuốc lại mạnh đến thế, nhưng chưa bao giờ họ lại cảm thấy mình lúng túng đến thế.
Trụ sinh khi dùng bừa bãi, có thể tạo ra nhiều bệnh nặng do vi trùng staphylocoque gây ra, hoặc bệnh nấm(mycose) hoặc làm cho máu biến đổi.
Một vài loại sulfamide có thể gây ra bệnh ngoài da chết người được. Aspirine dùng nhiều có thể làm loét bao tử và xuất huyết, dùng corisone có thể làm thủng bao tử, gây kinh phong, hoặc làm cho bệnh lao cũ tái phát. Butazolidine có thể làm băng huyết được. Nhiều tai nạn lưu thông đã xảy chỉ tại dùng thuốc an thần, những thuốc này làm cho phản ứng chậm lại.
Người ta cũng nói nhiều về trường hợp các lực sĩ chết vì dùng kích thích tố trong các cuộc thi điền kinh.
Vẫn hay rằng những thuốc nói trên, trước khi đem ra dúng đã được thí nghiệm cho súc vật (Florey và Chain đã chích Penicilllin cho chuột và thấy không độc nên mới chích cho người, cũng như các loại thuốc an thần) nhưng làm sao biết chắc được là khi áp dụng cho người sẽ không nguy hiểm sẽ không nguy hiểm?Làm sao có thể tiên liệu được những phản ứng chậm, còn những thứ thuốc, thuộc loại thuốc hóa học, mỗi ngày một nhiều, càng công hiệu lại càng nguy hiểm)
Người ta đã từng thí nghiệm thuốc thalidomide trước khi đưa ra thị trường nhưng có ai ngờ đâu rằng dược phẩm đó lại làm cho các sản phụ sinh ra quái thai. ?
Các bạn thân mến.
Tôi không có ý nêu ra đây những nguy hiểm của thuốc để các bạn sợ và đừng dùng, mà chỉ mong sao các bạn thận trọng mỗi khi các bạn cho toa, nhất là lưu ý các bạn đến những phản ứng bất ngờ có thể xảy ra với bất cứ loại thuốc nào. bởi vậy các bạn cần hỏi cặn kẻ bệnh nhân trước khi biên toa cho họ.
Tôi đã nói với các bạn không có nghề nào có nhiều trách nhiệm bằng nghề thuốc, nhưng cũng không có nghề nào cao quý bằng. Cứu sống một người bị thương nặng nhờ giải phẫu kịp thời và đúng kỹ thuật, làm cho một bệnh nhân đang đau quằn quại chỉ trong phút chốc hết đau ngay, hoặc trả lại cho một bà mẹ đứ con yêu quý mà bà ta yên trí khó lòng qua khỏi, tất cả những cái đó, đối với một người không ở trong nghề, thật là phi thường và được coi như phép lạ.
Trách nhiệm của người thày thuốc nặng nề ngay từ khi định bệnh cho đến lúc kê toa, hoặc giải phẫu, bởi tính mạng của một người nằm trong tay họ.
Trách nhiệm đó làm cho người thày thuốc ngày đêm lo lắng đến quên ănmất ngủ. Tôi thành thật mong cho các bạn được sống những giờ phút lo âu hồi hộp đó vì chính nhờ thế, rồi qua khỏi mới cảm thấy được tất cả cái cao đẹp của nghề thuốc.
Trousseau, một vị danh sư của Pháp, đã từng khuyên các sinh viên y khoa:
‘”Các bạn có bổn phận làm vẻ vang cho nghề của các bạn, cũng như nhờ nghề đó mà các bạn được vẻ vang, một nghề đòi hỏi nhiều hi sinh, một nghề trong đó ngày và đêm của các bạn sẽ là ngày và đêm của người ốm”
Các bạn nên yên trí rằng các bạn gieo tận tâm mà sẽ chỉ gặt bội bạc. Các bạn sẽ phải gạt bỏ hết những thú vui đầm ấm của gia đình và thì giờ nghỉ ngơi sau một thời gian làm lụng vất vả.
Các bạn không được sợ thối tha bẩn thỉu hoặc nguy hiểm, các bạn không được lùi bước trước cái chết khi cái chết đó xảy ra giữa những lúc nguy hiểm của nghề chúng ta, bởi chết như thế sẽ làm cho ai nấy khi nhắc đến tên bạn, phải tỏ lòng kính mến. ”
Như tôi vừa nói, y học ngày nay tiến rất nhanh, và muốn trở thành một bác sĩ lành nghề, các bạn khi còn là sinh viên, phải siêng năng học tập, từ lý thuyết đến thực hành. Định bệnh chậm trễ hoặc sai lầm khi cho thuốc (cho quá hoặc không đủ liều) đều là những lỗi không thể tha thứ được. Bởi vậy thiết tưởng trong LỜI TUYÊN THỆ của Hippocrate cần ghi thêm câu này: Tôi xin thề suốt đời học hỏi Trong thời buổi này, bổn phận đầu tiên của người thày thuốc là phải học, phải biết, và phải biết cho đến nơi đến chốn, chứ không được biết lờ mờ.
Không nói tất các bạn cũng rõ là những kiến thức của chúng ta ở trên mọi lãnh vực, chứ không riêng gì ở y khoa, chỉ trong vài ba năm, có khi vài tháng, đã trở thành” cũ rích”. vì vậy chúng ta cần phải trau dồi học hỏi luôn luôn, suốt đời chúng ta vẫn phải là sinh viên đầy nhiệt hứng. Bận rộn mấy các bạn cũng cố dành thì giờ để đọc sách, báo y học, ngõ hầu theo dõi những tiến triển của y khoa, và nếu các bạn có thể tìm tòi, khảo cứu được thì càng hay. Thật là một tai họa cho người ốm nếu chẳng may gặp phải ông thày thuốc, dù tử tế dù tận tâm, nhưng” gà mờ “khiến tiền mất mà tật vẫn mang.
Người ta thường nói”có học mà không có lương tâm là sự đồi bại của linh hồn” (science sans conscience n’est que ruine de l’âme) nhưng có lương tâm mà không có học, nhất là khi làm nghề thuốc, cũng bằng thừa, nguy hiểm nữa là khác. “Tài năng và lương tâm chức nghiệp đều có liên hệ mật thiết với nhau, và giá trị nghề nghiệp phải đi đôi với giá trị đạo đức. Dốt nát và lừa bịp đều như nhau cả” (Gosset)
Ngoài việc trau dồi kiến thức y học, người thày thuốc còn phải có một vài đức tính sau đây:
a)Có óc nhận xét, nếu không sẽ bỏ qua những triệu chứng cần thiết để định bệnh.
b) Có lương tri, tức óc phê bình, biết phán đoán, không quá tin ở những kỹ thuật hoặc thuốc mới nếu xét thấy những kỹ thuật và thuốc này trái ngược với bệnh lý (phòng thí nghiệm vẫn có thể nhầm được). Đừng ham mới chuộng lạ nếu thuốc kê cho bệnh nhân dùng chưa được các danh sư hoặc các bác sĩ đứng đắn xác nhận là công hiệu và không nguy hiểm. Có nhiều thứ thuốc hôm nay được ca tụng như thần dược mà chỉ trong một thời gian ngắn đã bị bỏ rơi (trường hợp vàng để trị bệnh lao, thạch tín (arsenic) để chữa giang mai. . ) Bởi vậy trước khi cho toa các bạn phải thận trọng và luôn luôn nhớ tới lời châm ngôn cổ: Primum non nocere (trước hết đừng làm hại).
c) Có kinh nghiệm:
Muốn có kinh nghiệm dĩ nhiên phải hành nghề lâu năm. Tuy nhiên đối với nghề thuốc cũng như với nhiều nghề khác, các bạn đứng tưởng rằng cứ nhiều tuổi nghề mà có nhiều kinh nghiệm, nhiều từng trải, vì có “những cái mà mình cho là kinh nghiệm, kỳ thực là những sai lầm chồng chất lên nhau” (Sergent)
Một sinh viên y khoa năm thứ nhất, lần đầu tiên gặp một người mắc bệnh thương hàn lần sau gặp một người sốt liên miên, nom có vẻ mệt mỏi, chàng ta không do dự gì cả, bảo người đó bị bệnh thương hàn. Trái lại một sinh viên năm thứ năm, hoặc một sinh viên nội trú hoặc một vị giảng sư dù đã từng chữa hàng trăm người mắc bệnh đó rồi, bao giờ cũng dè dặt, không vội vả. Những người ít học lại càng hay tự phụ, còn những người học rộng tài cao lại càng khiêm tốn”khác nào những bông lúa lép bao giờ cũng ngạo nghễ vươn đầu lên trời, trong khi những bông lúa vàng nặng trĩu hạt thì nằm rạp xuống đất" (Leonard de Vinci )
Ngoài kiến thức về y học ra người thày thuốc còn phải có những đức tính tinh thần, nhất là phải có tình thương.
Làm thày thuốc dù giỏi, dù có lương tâm mà thiếu tình thương thì chỉ được coi như mới làm có một nửa phận sự thôi, và nhất định không thể nào yêu nghề được. Từ mấy ngàn năm nay Hippocrate đã nhấn mạnh tới điểm quan trọng này rồi.
Bạn săn sóc người ốm, sau khi đã thăm bệnh, cho toa, dặn dò cặn kẻ cách dùng thuốc như thế nào và cho biết bệnh tình nặng nhẹ ra sao, bao giời khỏi, rồi bạn ra về, như vậy đã đủ chưa? Tôi thấy là chưa đủ. Vì ngoài cái đau đớn về thể xác, bệnh nhân nào cũng mong được vỗ về, an ủi, bệnh nhân nào dù sang hèn, cũng muốn rằng người thày thuốc kiêm cả một nhà tiên tri nữa, biết hiện tại lẫn tương lai, chữa được mọi bệnh ngay cả tâm bệnh.
Phải chính bản thân mình đã từng bị đau ốm mới biết thế nào là một người thày thuốc. Trong khi mong đợi thì xiết bao lo ngại, băn khoăn, rồi khi thấy mặt thì mừng rỡ, cảm thấy vững tâm ngay. Mỗi lời nói, mỗi cử chỉ của người thày thuốc đều quan trọng đối với người bệnh, và người này chỉ muốn cho ông thày lúc nào cũng ở bên cạnh mình, không rời mình ra, bất kể đêm khuya, bất kể họ mệt nhọc. Nào chỉ có thế thôi !Lại còn những lời trách móc nếu mời mà đến chậm, hoặc đi vắng vì hôm đó nhằm ngày chủ nhật hay ngày lễ.
Chính nhờ có sự vững tâm nói trên mà nhiều khi bệnh mau khỏi. Bởi lẽ đó, y học muốn trở thành một nghề cao quý, cần phải là một nền y học nhân bản, nghĩa là hiểu thấu những gì thuộc về con người, con người toàn diện, con người trong quá khứ và hiện tại. Và nhất là phải tôn trọng con người.
Nhân bản là cảm thấy trong lòng con người ta trải qua bao thế kỷ, cái gì đó vẫn bất di, bất dịch, con người thì hoàn toàn và sống trong một thế giới thích hợp với họ, con người biết rung động trước thiên nhiên, biết rung động khi nghe một bản nhạc, khi đọc một cuốn sách khi suy ngẫm về những sự huyền bí của tạo vật. Nhân bản tức là biết cảm, biết yêu, biết thương xót” (Maranon)
Một người ốm, không phải chỉ có phần xác, với tim, gan, phổi, thận mà thôi, lại còn có cái mà từ ngàn xưa Platon gọi là phần hồn nữa.
Một bệnh nhân thuộc về bất cứ thành phần nào trong xã hội không phải là một con số, hay là một lá phiếu như ta thường quan niệm ở bệnh viện. Họ không phải là một kẻ vô danh, mà ngược lại, là một người như chúng ta, một người có tên, có tuổi, có nghề nghiệp, địa chỉ, có gia đình, có những hoài bão, ước mơ, cảm xúc.
Các bạn nên biết rằng một bệnh nhân khi nằm trên giường bệnh, không bao giờ có những phản ứng tâm lý như một người bình thường, và buổi đầu thế nào họ cũng có những xúc động lo âu.
Người thày thuốc không phải là một người thợ máy sữa chữa cơ thể như ta sửa một cái máy hư”Đó là một con người cúi xuống một con người khác, mong giúp đở họ, có gì cho nấy, đem lại cho họ một chút khoa học nhưng rõ nhiều tình thương”(Ignacio chavez).
Muốn rằng thày thuốc là một con người máy và người ốm là một con số tức là không hiểu một tí gì về khoa tâm lý cả. Không nói tất các bạn cũng rõ là con người ta phức tạp vô cùng, đầy mâu thuẩn, có lúc sống với những bản năng cực kỳ hèn thấp, nhưng đôi khi lại có những hành động thật là cao thượng, siêu nhân. Và có lẽ bởi nhìn thấy rõ các nhược điểm đó nên người thày thuốc, mỗi khi gặp một bệnh nhân khó tính, hoặc đối xử với mình tệ bạc mà vẫn sẳn lòng tha thứ.
Không có một bộ máy nào dù cho tinh xảo mấy đi nữa, có thể ủy lạo người ốm với những lời dịu dàng trìu mến được, và giữa người thày thuốc và con bệnh, bao giờ cũng có một sự cảm thông, một mối dây liên lạc mật thiết “một cuộc đối thoại kỳ lạ”(une colloque singulier) như Duhamel đã nói, một bên thì ký thác những gì bí ẩn trong cõi lòng của mình, còn một bên thì cho mà không hề đòi hỏi. Hiểu như vậy các bạn sẽ cảm thấy sung sướng vô cùng, và nếu cái học của các bạn không phải là cái học nhân bản thì thật là vô ích và đáng tiếc lắm.
Tóm lại đối với người thày thuốc, xứng đáng với danh từ đó “không có bệnh mà chỉ có con bệnh thôi” (Mondor).
 *************
Ta thường nghe người ta phê bình ông thày thuốc này tốt, ông kia tử tế. Tốt hay tử tế không phải vì mát tay, mà vì ngoài công việc chữa bệnh ra, người thày thuốc còn hỏi han đến gia cảnh của thân chủ mình, đến sự học hành của con cái họ, có khi khuyên răn, có khi giúp đở, nghĩa là làm tất cả những gì có thể làm cho bệnh nhân và gia đình họ được hài lòng “ chỉ có người tốt mới có thể thành danh y được (Nothnagel) vì nhiều khi chính nhờ tấm lòng tốt của người thày thuốc mà bệnh nhân chóng bình phục.
Ngoài tình thương và tấm lòng tốt ra người thày thuốc còn phải tế nhị đối với bệnh nhân nhất là ở bệnh viện.
Các bạn đừng quên rằng người ốm bao giờ cũng có nhiều mặc cảm (mặc cảm tự ti) hay lo lắng và thường để ý tới cử chỉ và lời nói của các bạn.
Các bạn đừng khinh người nghèo khó và nên nhớ rằng trước bệnh tật và cái chết ai ai cũng như nhau cả.
Ambroise Pare người đã được coi như cha đẻ của khoa giải phẫu, nguyên là ngự y cho vua Chareles IX một hôm nhà vua đau cho vời ông lại và bảo: “Trẩm mong khanh săn sóc Trẫm chu đáo hơn những người khác” Ambroise Pare đáp”Tâu bệ hạ hạ thần rất tiếc vì kẻ hạ thần chữa thân chủ của hạ thần như chữa các bậc đế vương
Ngay đến những sa đọa về tinh thần của bệnh nhân các bạn cũng phải tôn trọng.
Các bạn sinh viên thân mến,
Như trên tôi vừa nói, trong nghề thuốc của chúng ta có nhiều buồn, nhiều đau khổ hơn vui, nhất là nhiều nhục hơn vinh. Có những người mà ta tận tình săn sóc lại là những kẻ bội nghĩa vong ân, và trái lại, có những người mà tự xét ta chẳng làm được gì gọi là đáng kể thì suốt đời họ lại coi ta như bậc ân nhân.

 *********
Nói tới những bổn phận của các bạn, tôi không thể không đề cập đến vấn đề bí mật nghề nghiệp (secret professionnel)
Tuyệt đối người thày thuốc không được tiết lộ cho ai biết căn bệnh của thân chủ mình. Trong bệnh viện khi các bạn còn là sinh viên, các bạn không được nói to để người ngoài biết bệnh tình của con bệnh, hoặc cho biết họ mắc bệnh gì (một bà chủ muốn biết người làm công của mình mắc bệnh lao hay không). Ngay cả đối với nhà cầm quyền, các bạn cũng không được tiết lộ những gì bạn biết về thân chủ của các bạn. Khi viên cảnh sát trưởng hỏi ông Dupuytren để biết ai là kẻ phiến loạn trong số người nằm điều trị trong bệnh viện, ông ta đáp: ”Tôi không biết ai là phiến loạn cả, tôi chỉ biết có những người bị thương thôi”
Các bạn cũng nên biết rằng các bạn có thể bị phạt tù nếu các bạn không kín miệng.
Sau hết các bạn phải có lương tâm chức nghiệp, hay nói một cách vắn tắt, các bạn khi hành nghề phải có lương tâm. Giaó sư Jean Gosset đã từng nói;”Trong phòng giải phẫu người thày thuốc là chúa tể sau đức Thượng Đế nhưng có trách nhiệm trước lương tâm của mình”
Không riêng gì thày thuốc ngoại khoa mà có thể nói một cách tổng quan là không một ai có thể kiểm soát nỗi một bác sĩ ngoại trừ lương tâm của họ
Sởv dĩ ngày nay y học không có một địa vị xứng đáng trong xã hội, sở dĩ người thày thuốc không được trọng vọng, không được kính nể như hồi xưa (kể cả ở Việt Nam) là bởi trong nghề của chúng ta có một số con chiên ghẻ, thiếu lương tâm chức nghiệp.
Các bạn thân mến
Nghề thuốc mà các bạn đã lực chọn không giống những nghề khác. Nhất định không, một trăm, một ngàn lần không. Ai đã chọn nghề này cần phài biết rằng có nhiều cái không được phép làm, và phạm tới những cấm điều đó, tức là làm hoen ố nghề mình.
Nếu các bạn không muốn sống khắc khổ, không sẳn sàng hi sinh tốt hơn hết là các bạn tìm một nghề khác, ngay từ bây giờ cũng chưa muộn. Không thiếu gì nghề ngoài nghề thuốc vừa đem lại cho các bạn danh giá tiền bạc lại không vất vả, nhất là không có trách nhiệm gì hết.
Có người, nhiều người lắmtưởng rằng nghề thuốc cũng như nghề đi buôn. Kỳ thực, giữa nghề đi buôn và những nghề tự do, trong đó có nghề thuốc, có một hố sâu không sao lấp được.
Mục đích nghề đi buôn là mua rồi bán để lấy lời. Giá hàng cao hay hạ là tùy thuộc ở món hàng tốt hay xấu, bền hay không bền.
Trái lại mục đích chính của nghề tự do không phải là tiền tài hay lợi lộc. Người thày thuốc khi săn sóc một người ốm, cũng như một giáo sư khi giảng bài cho học sinh, sinh viên, đều cố gắng hết sức mình chứ đâu có nghĩ tới tiền thù lao, lương lậu ?
Người đi buôn có quyền làm quảng cáo rùm beng, hoặc trên báo, hoặc trên đài phát thanh, trên đài truyền hình để “câu khách”, hoặc nhờ người dắt mối rồi cho họ ăn hoa hồng.
Người đi buôn có thể rao ầm ỉ để mọi người biết là hàng của họ đep, bền, rè nhất thế giới chẳng hạn mà không sợ ai chê cười. Trái lại, người thày thuốc, biết tự trọng, có liêm sĩ, không được phép làm như vậy. Không những Y sĩ đoàn, Nghĩa vụ luận không cho phép mà chính lương tâm của họ cũng không cho phép.
Người ốm không phải là một món hàng và chúng ta cũng thế, chúng ta không phải là món hàng để cho thiên hạ đem tiền ra mua chuộc. Chính người thày thuốc, khi đem tài nghệ của mình ra để phục vụ người ốm, đã làm ơn cho họ, chứ không phải người ốm, vì đem tiền bạc hay thế lực mà ban ơn cho người thày thuốc”. (Leannec)
Ngoài bổn phận đối với bệnh nhân ra, các bạn còn có bổn phận đối với các bạn đồng nghiệp nữa.
Tôi nhận thấy ngày nay phần đông các bác sĩ không đối xử với nhau như các bậc đàn anh của họ hồi xưa: trên kính dưới nhường. Tuyệt đối các bạn không được nói xấu bạn đồng nghiệp, không được phê bình (với ác ý) chỉ trích cách định bệnh hoặc chữa bệnh của họ, không được gièm pha để tranh khách, không được len lỏi vào một gia đình nếu gia đình đó đã có một dồng nghiệp rồi.
Giáo sư P, V. Badot có kể lại truyện về giáo sư Maranon, một hôm tới bệnh viện Bichat và chăm chú nghe một sinh viên nội trú giới thiệu một bệnh nhân mắc chứng bệnh ở nội tiết tuyến (glandes endocrines) P, V. Badot viết: ”Khi tôi hỏi ý kiến của ông trước mặt đông đủ học trò của tôi thì ông chỉ mỉm cười, không trả lời. Khi chỉ có một mình ông với tôi, tôi nói:
-Thế nào ông có đồng ý không?
Giáo sư Maranon đáp:
-Tôi không hoàn toàn đồng ý với học trò của ông.
-Thế tại sao lúc ấy ông không nói?
-Bởi vì không ai có thể biết sự thật chắc chắn được, Vả lại, không bao giờ được làm mất lòng một bạn đồng nghiệp cả!”
Rồi giáo sư PVBadot kết luận: “Lịch sự tới cực độ ấy là một đặc tính của ông. ”
Còn một điều này nữa tôi muốn nói với các bạn, là ngoài nghề thuốc racác bạn cần phải trau dồi văn hóa, không những trên lãnh vực khoa học mà cả trên lãnh vực văn chương nữa. Ở vào thời buổi này một nhà khoa học phải ham thích văn chương cũng như một nhà văn, không thể không biết tới khoa học.
Chính nhờ văn hóa mà bạn có óc phê bình, sự phán đoàn của bạn được sắc bén, mau lẹ và minh mẫn, trí tuệ không bị cùn nhụt, căn cỗi, thành chai, tâm hồn của bạn vẫn giữ được trẻ trung mãi mãi.
 Giáo sư P, V. Badot đã viết:
Phải mở mang trí tuệ của thnh niên hơn là để họ sống gò bó trong khuôn khổ chật hẹp của y khoa.
Tôi nhận thấy nhiều danh y của thế giới, hoăc nhiều giáo sư đại học, đều là những người hiếu học, ham đọc sách, yêu sách, yêu nghệ thuật, học thức rất uyên thâm, vừa là thầy thuốc trứ danh, vừa là nhà văn nổi tiếng, như Mondor (nổi danh nhờ con daocây bút và cây cọ) Jean Delay, P. V. Radot, Duhamel…. những người này vừa có chân trong Hàn Lâm viện Y khoa vừa là Hội viên của Hàn Lâm viện Pháp.
Nữ văn hào Han Suyin, Sommerset Maugham, Cronin, trước khi là nhà văn, đã từng làm nghề thuốc.
Tchekov, đại văn hào Nga, vừa sống về nghề thuốc, vừa viết văn. Ông thường nói: ”Y học là vợ chính thức của tôi, còn văn chương là tình nhân. Khi tôi chán bà này thì tôi đi với bà kia. Tuy nhiên đối với cả hai, tôi đều trung thành cả. Nếu không có nghề thuốc, có lẽ tôi không có tài liệu để viết văn. ”
Giáo sư Trousseau già tôi đã dẫn thượng, cũng bảo: Một nhà bác học mà không phải là một nghệ sĩ chỉ là một nhà bác học tầm thường”
Bởi vậy tôi khuyên các bạn, ngoài việc học ra, nên để thời giờ nhàn rỗi, trau dồi văn hóa, rèn luyện văn chương, nghệ thuật (âm nhạc hội họa……) chơi thể thao, để cuộc đời đỡ buồn tẻ, vì theo tôi, nếu suốt đời làm mãi một nghề, bất cứ nghề gì, mà vẫn hăng say, không thấy chán thì quả thật là một sự lạ.
Không những để cuộc đời khỏi buồn tẻ mà còn làm cho đời sống thêm phong phú, để biết sâu hiểu rộng, ngoài lãnh vực y khoa.
Người ta thường so sánh thày thuốc với ông Cha sở và ông Luật sư. Tôi không mang tiếng mắc bệnh chủ quan nếu phê bình vai trò của ba loại người đó, mặc dầu ở đây chỉ có các bạn và tôi mà chỉ xin dẫn Balzac và Duhamel là hai văn hào đã viết rất nhiều về cuộc đời của mấy nhân vật đó. Balzac nói:
Tôi cho rằng sở dĩ văn minh tiến bộ và nhân loại được sung sướng là nhờ ba người này”
Nhưng sau khi nhận thức đúng vai trò của người thày thuốc, ông nói thêm:
“Người nhà quê sẳn sàng nghe lời người kê toa cho mình để họ khỏi bệnh hơn là nghe lời ông Cha sở diễn thuyết về việc cứu vớt linh hồn. Một đàng có thể nói chuyện với họ về đồng áng và một đàng, chỉ có thể bàn với họ về thiên đàng, điều mà họ ít quan tâm tới. ”
Còn Duhamel thì viết về ba vị đó như sau:
“Ông luật sư mà ta nhờ cậy để bệnh vực công lý cho ta có thể chọn ngày giờ để tiếp khách. Nếu ông yêu nghề, ông sẽ hăng hái làm việc, dù sao, không có gì cấp bách cả. Đối với thân chủ của ông, dù sao tình thương không quý bằng tài hùng biện, bằng sự khôn khéo, bằng giao thiệp rộng.
Công việc của một nhà tu hành có thể ví với công việc của người thày thuốc. tuy nhiên tôi cần nói ngay là chỉ khi nào hấp hối, người ta mới mời ông Cha Sở. Lương tâm dù bị cắn rứt, đợi đến sáng hôm sau cũng không muộn. Nhưng thường thường khi lên cơn đau vì trong thận có sạn, thì không thể nào đợi được. Ít khi người ta đánh thức ông Cha sở, dù ông này tốt, vì có người ăn năn sám hối; nhưng hơi nhức đầu một tí, có khi chẳng sao cả, đang đêm người ta cũng dựng ông thày thuốc dậy. ”
Các bạn sinh viên thân mến
Tôi vừa phác họa ra đây hình ảnh của một người thày thuốc, xứng đáng với danh từ ấy, suốt đời tận tụy, hi sinh cho người ốm, không quản vất vả, không mấy khi có thì giờ để nghỉ ngơi, giải trí, bữa ăn giấc ngủ thất thường, ngay đến những thú vui trong gia đình cũng không được hưởng, đã thế lại gặp nhiều bội bạc, hoăc có khi bị chính các bạn đồng nghiệp dèm pha, ghen ghét.
Tuy vậy nhưng tôi chưa hề thấy một người thày thuốc nào than phiền về cái nghề của họ, vì đó là một nghề cao đẹp, cao đẹp hơn hết mọi nghề khác cao đẹp ở chỗ tất cả những cảnh khổ não trên thế gian này chỉ càng thắt chặt thêm mối dây liên lạc giữa người thày thuốc với người ốm, không phân biệt giàu sang hay nghèo hèn, cao đẹp ở chỗ chỉ có nghề thuốc mới dung hòa được khoa học với lý trí và tình thương.
Và để kết thúc buổi nói chuyện, kể cũng khá dài rồi, tôi xin mượn lời giáo sư E. Rist, trích trong cuốn: Y học là gì ?(Qu’est-ce la Medicine ?)
Muốn lúc nào cũng lãnh được hết trách nhiệm tinh thần của nghề chúng ta, chỉ có cách chắc chắn nhất, ấy là chuyên tâm vào nghề của mình, yêu nghề đó tha thiết, và luôn luôn cố gắng để mỗi ngày một tiến.
Người thày thuốc muốn được tín nhiệm cần phải xứng đáng là người thày thuốc, cần phải có một nếp sống giản dị, không xa hoa đàng điếm, phải lập gia đình và ở trong gia đình, nêu một tấm gương thanh bạch đứng đắn.
Người thày thuốc phải sống thực tiễn và sống theo thời đại. Trí tuệ phải được rèn luyện, trau dồi luôn, hợp nhân đạo. Đối tượng của sự học là con người, con người toàn diện.
Người thày thuốc không những nên tìm hiểu con người trên lãnh vực khoa học mà còn cần biết đến đời sống tâm linh nhờ được tiếp xúc với đủ mọi tầng lớp người, nhờ được trông thấy những thử thách của cuộc đời và làm quen với những kiệt tác của nhân tâm, của nghệ thuật và của khoa học.
Sống cho người thân yêu và cho nghề của mình, đó không phải là một đề mục khá đẹp cho một mộ chí hay sao? Và nếu lại còn được cái đặc quyền sống cho Tổ Quốc nữa thì thật là sung sướng vô cùng. Và chung quy có lẽ đó là một cách thẳng thắn nhất để sống cho nhân loại.
Tôi thành thật cầu chúc cho các bạn sẽ là người thày thuốc gương mẫu đó.

M. Lichtenberger: Influence of food on frequency-dependent sexual activity of Drosophila Melanogaster

Volume 19, Number 4, 575-591, DOI: 10.1007/BF01066255
Abstract
When two types ofDrosophila are in competition, the frequency dependence of mating successes frequently is measured by direct observation of copulating pairs in Elens-Wattiaux observation chambers, the relative frequency of both types being varied. The present experiments, concerningwhite-ebony mutants in competition with wild-type Canton-S flies, show that the presence of food in the mating chamber influences the sexual activity of flies, this influence differing in the two types when food is present. Thus, in order to have a realistic estimation of frequency dependence, it would seem prudent to conduct these experiments with food in the chamber. Three methods are used to analyze observation data:K coefficients of Petit and Ehrman, regression equations of Ayala and Campbell, and regression equations of Wattiaux and Lichtenberger. These three methods are compared and discussed.
Key Words Drosophila melanogaster - rate-type mating advantage - food

This paper is dedicated to the memory of Marcel Lichtenberger, M.D., 15 years medical missionary in China and 17 years Professor of Human Genetics at the State University of Saigon, Vietnam.
Fulltext  Preview

Tham khảo:
no access
Journal Article

  • no access
    Journal Article




  • no access
    Journal Article
    Genetica, 1987, Volume 75, Number 3, Pages 167-171




  • no access
    Journal Article
    Genetica, 1988, Volume 77, Number 1, Pages 25-52
  • Cha Lichtenberger tấm lòng vị tha và năng khiếu y sư (de "l’âme de la chose"au "tact médical")

    Bác sĩ chủ bút tập san Y Sĩ Canada gợi ý tôi viết về một Giáo sư của đại học Y Khoa Saigon, viết về Giáo sư của mình bao giờ cũng là đề tài gây cho tôi nhiều cảm hứng vì tôi hiểu rằng trò là sự tiếp nối của Thầy nên hiểu Thầy là hiểu được mình, hiểu được khả năng tiềm ẩn của mình, hiểu được ước vọng của mình.
    Nhưng viết về Giáo sư nào ? Ít lâu nay tôi tập thói quen là mỗi lần muốn tìm câu trả lời cho một vấn đề gì là tôi tập tĩnh tâm để nghe tiếng lòng mình. Quả vậy vài ngày sau thì tên Cha Marcel Lichtenberger vang trong tâm trí tôi, rồi hình ảnh một buổi sáng mùa đông năm 1984 tôi đáp xe lửa xuống Namur, đến phòng thí nghiệm nghiên cứu tế bào di truyền học nơi Cha đang làm để xin Cha hỗ trợ hồ sơ xin học lại Y Khoa của tôi tại Bỉ.
    Với lại như trong lá thơ in trong tập san Y Sĩ số xuân tôi đã trình bầy lòng tin của tôi vào bản chất con người là tình thương và ánh sáng nên tôi nghĩ cuộc đời của Cha sẽ là một bằng chứng cụ thể cho bản chất này.
     Tôi viết Mail cho Bác sĩ chủ bút ngỏ ý muốn của tôi. Bác sĩ chủ bút gởi cho tôi bài viết của Bác sĩ Phan thị Mai và của Dòng Tên về Cha Lichtenberger đã được đăng trong Tập San Y Sĩ số tháng 7 năm 2007 và chờ tôi tùy nghi viết tiếp.
    Có một sự trùng hợp kỳ lạ là từ đầu năm nay tôi chuyển hướng làm việc, tôi về làm tại vùng rất gần nơi quê Cha  (Athus) nên tôi có ý định gặp gia đình Cha. Tôi tìm trong niêm giám điện thoại vùng Athus thấy tên M. Lichtenberger, tôi mạo muội điện thoại đến đó tự giới thiệu và nói mục đích của mình. Bà Lichtenberger đây là cháu gọi Cha là chú hay bác, bố Bà đã mất, mẹ bà thì đã trên 90 tuổi nên không nhớ gì nhiều và bà giới thiệu tôi với bà chị em họ và nói bà này đang sưu tầm tài liệu về Cha. Bà Quoirin là cháu gọi Cha bằng cậu, bố mẹ bà đều mất cả và khi nghe tôi nói ý định của tôi viết bài về Cha thì bà nói”Cha đã thoát ly gia đình,”marier”với Dòng Tên nên gì của Cha là của Dòng Tên, ngay cả việc Cha mất cũng được an nghỉ nơi phần mộ Dòng Tên chứ không ở gia đình”và bà cho tôi một ít tài liệu nhưng tôi đặc biệt chú ý đến bài lược dịch tiếng Việt bài viết của Cha Joseph Reinbold đã được đăng trên tập san Chine – Maduré - Madagascar năm 1986 với nhan đề”Un missionnaire peu ordinaire: Le Père Marcel Lichtenberger, 1906-1985”. Đây là tài liệu duy nhất mà phòng hồ sơ lưu trữ của Hội Thừa Sai Dòng Tên Paris có về Cha. 
    So với bài viết của Dòng Tên (đã in năm ngoái ) thì về phần tiểu sử và sự nghiệp không khác gì nhưng tôi đặc biệt chú ý đến nhan đề của dịch giả: ”Một người thầy dậy dỗ bằng cuộc sống” và lời mở đầu của tác giả như sau :
    “Câu chuyện về một linh mục bình thường đến độ phi thường, đến 48 tuổi mới tốt nghiệp bác sĩ, rồi trở thành thầy của một bác sĩ mà đến 48 tuổi mới thụ phong linh mục .
    Năm 1957, khi Cha Lichtenberger chuẩn bị sang miền Nam Việt Nam, Bác sĩ Georges, giám đốc các phòng thí nghiệm của tập đoàn dược phẩm Christiaens ở Bruxelles, khởi đầu diễn văn tống biệt như sau :”Nếu người ta hỏi tôi theo kiểu tập san Reader’s Digest : Ai là người phi thường nhất mà bạn đã từng gặp ? tôi sẽ trả lời ngay không một giây do dự : Cha Marcel Lichtenberger”, Cha là một người có thiên tài nghiên cứu, cái thiên tài của Claude Bernard, vì Cha đặt việc thí nghiệm và quan sát các dữ kiện lên hàng đầu; Cha là một Giáo sư hăng say, năng động và sáng tạo trong quá trình nghiên cứu khoa học”
    Có những người nghĩ rằng đời sống tu trì sẽ bóp chết những khả năng nhân bản, thu hẹp cá tính của những ai đi vào con đường ấy, cũng giống như nghệ thuật giồng cây cảnh của Nhật tạo ra những cây bonsai lùn tịt và biến dị. Nếu những người này gặp được vị thừa sai hăng say này, họ sẽ thấy rằng đời sống tu trì không hề dìm đi khả năng đáng kinh ngạc của con người, không làm ngơ trước những vấn đề của cuộc sống, và cũng không kìm hãm sức vươn lên. Khi tôi gặp Cha lần đầu cách đây gần 60 năm (1926 ) cha còn là một chàng trai trẻ ở độ tuổi đôi mươi, nhỏ người, lực lưỡng, cái đầu hơi lớn, sọ não phồng lên như một vòm bách khoa, tóc húi ngắn trông hơi hung hăng; loại người bảo vệ tư tưởng mình một cách hăng say mà không trở ngại nào có thể ngăn cản nổi. Một người bạn của Cha thời ấy, sau này trở thành giám mục ở Cameroun, vẫn còn nghe Cha”phán”với giọng chắc nịch mà không cho ai bàn cãi”Tôi không thể chấp nhận rằng khi ta có những ý tưởng quảng đại mà lại không làm hết sức mình để thực hiện những ý tưởng đó.”
    Trong khuôn khổ bài viết này tôi xin tóm lại tiểu sử của Cha để tìm hiểu bài học vô giá mà Cha đã dậy học trò bằng cuộc sống làm gương của mình.
    Sau khi dự buổi giảng thuyết của Cha Michel Lebbe về công tác tông đồ tại Trung Hoa, Cha xúc động về sự khó khăn của dân bên đó và cảm thấy bị thúc dục phải thực thi những nỗ lực thích nghi để giúp họ.
    Qua một kỳ tĩnh tâm tại Arlon (Bỉ), 3 năm ở Dòng Tên Florennes (Pháp) , và 2 năm dậy học tiếng La tinh lớp đệ thất để đợi nghe sự xác định của lòng mình, ngày 01 tháng 10 năm 1929 Cha vào nhà tập Florennes của các Cha Dòng Tên (Pháp) với nguyện vọng được sang Trung Hoa càng sớm càng tốt. Sau khi hoàn tất 2 năm nhà tập, Cha thi hành nghĩa vụ quân sự với tư cách là y tá trong ngành quân y Bỉ.                
    Ngày 20 tháng 8 năm 1932 Cha thực hiện cuộc hành trình dài đến Trung Hoa đầy vất vả chông gai bởi chiến tranh du kích Hoa-Nhật và thiên tai lụt lội bão táp...
    Cha bắt đầu học tiếng Hoa và học triết để có thể hiểu và tiếp xúc sâu xắc với người dân, Cha tiếp thu rất mau nên còn thời gian nghiên cứu vi khuẩn, mô học và vật lý. Cha đã lắp ráp được một hệ thống điện thoại tự động để thay thế những điện thoại cổ lỗ hay bị hỏng trong những cơ sở của giáo điểm. Sau một thời gian kỷ lục Cha đã nắm vững ngôn ngữ Hoa, nói rất đúng giọng nên Cha đã có đủ khả năng để trợ giúp đắc lực trong bệnh viện Saint Joseph, một bệnh viện do cha Verdun thành lập cho bệnh nhân của một vùng có trên dưới một triệu dân. Một Bác sĩ người Hoa đến 2-3 lần mỗi tuần yêu cầu Cha làm những xét nghiệm đơn giản. Khi các nữ tu y tá gặp trường hợp khó khăn mà không có Bác sĩ ở đấy thì nhờ Cha giúp đỡ và Cha đã đem ra thực hành những kiến thức đã học được trong thời gian nhập ngũ tại Bỉ ...
    Học xong triết Cha học thần học, được dự định đi dạy sinh học và tâm lý thực nghiệm cho các nhà tu trẻ dòng Tên. Để sửa soạn, Cha theo cha Lejag, Giáo sư tim mạch tại đại học Bình Minh và tại đây Cha đã xây dựng hoàn chỉnh máy điện tâm đồ, một trong những điện tâm đồ đầu tiên xuất hiện tại Trung Hoa ...
     Liên lạc với các tỉnh khó khăn, Cha ráp một máy phát thanh để bắt liên lạc bằng radio mỗi sáng nên thường bị chế độ làm khó dễ vô cùng. Các Bác sĩ người Hoa, đều bỏ bệnh viện trốn đi. Cha bất đắc dĩ phải thay thế họ làm bác sĩ và nhà giải phẫu: mổ chấn thương sọ não do đạn, mổ lưỡi lê đâm thủng dạ dầy với kết quả kỳ diệu nên danh tiếng của vị bác sĩ giải phẫu mới này truyền khắp vùng nhanh như lửa cháy. Người ta ùn ùn đến bệnh viện Saint Joseph, Cha đã tiến hành hàng ngàn cas giãi phẫu: cắt các chi, mổ ruột thừa, mổ thai, và nhất là mổ tinh thể mắt, một lãnh vực mà Cha trở thành chuyên viên ...
    Năm 1945, Nhật rút quân, Trung Hoa thuộc về tay cộng sản họ muốn đẩy các tông đồ đi nhưng các cha vẫn ở lại để giúp dân. Cha Lichtenberger bị bắt giam 6 lần với thời lượng khác nhau từ 5 ngày đến 9 tháng. Cha bị buộc vào nhiều tội khác nhau một cách trên trời dưới đất như tiêm thuốc cho người bị thương cho anh ta chết, làm gián điệp cho đế quốc chuyển tài liệu cho họ bằng máy thu thanh và thậm trí bằng điện tâm đồ... Trong khoảng thời gian được tự do Cha lại khám bệnh và giải phẫu tại bệnh viện. Rồi cuối cùng các người cầm quyền trục xuất các Cha ngày 29 tháng 7 năm 1948 với lý do :”đã muốn kìm kẹp nhân dân Trung Hoa trong tình trạng nô lệ vì họ đã bị nhiễm vi trùng tư bản vô phương cứu chữa”. Tất cả những biến cố này đã để lại cho Cha một dư vị cay đắng !!!
    Về Pháp Cha tiếp tục hoàn tất năm thứ ba tập viện và quyết định lấy bằng bác sĩ. Ở tuổi 43, Cha trở lại băng ghế đại học Louvain tại Bỉ khi đã là một”bác sĩ”có kinh nghiệm và nổi tiếng. Cha hoàn thành 80 tín chỉ trong vòng 4 năm thay vì 7 năm như mọi người. Trong quá trình tập sự tại nhà điều dưỡng Mont-sur-Meuse Cha đã khám phá và hoàn chỉnh một thuốc trụ sinh mới để chữa bệnh lao khiến tập đoàn dược phẩm Christiaens ở Bruxelles chú ý đến Cha và mời Cha đến các phòng thí nghiệm của mình để tiếp tục nghiên cứu và Cha đã làm tại đó 3 năm trước khi được đề nghị đi phụ trách Khoa mô phôi học tại Đại Học Y Khoa Sàigon. Cha rất phấn khởi chấp nhận.
    Tại Việt Nam, khoa mà Cha phụ trách đang ở trong tình trạng thiếu tổ chức đến độ như chưa hề có khoa này. Trong 17 năm Cha xây dựng bộ môn, việc dậy học và nghiên cứu khoa học trở thành công tác tông đồ chính yếu của Cha. Tuy nhiên các sáng chủ nhật Cha thường khám bệnh miễn phí tại một bệnh xá dành cho người nghèo và tại một viện mồ côi. Cha thành lập Hội Y Sĩ Công Giáo Việt Nam và Cha là tuyên úy. Đó là một phạm trù làm việc tông đồ đặc biệt quan trọng vì phải củng cố lòng tin để họ đối diện với những ngày khó khăn mà Cha thấy sắp sửa xẩy ra .
    Cha quá đau khổ ở Trung Hoa nên lo lắng mãi cho tương lai Việt Nam. Những lo lắng đó ảnh hưởng đến sức khỏe của Cha và vài tuần trước khi người cộng sản tiến vào Sàigon Cha bị nhồi máu cơ tim, Cha nhập viện ba tuần, sau đó trở về Pháp rồi về Bỉ làm tại Phân Khoa Đại Học Notre Dame de la Paix ở Namur. Cha phụ trách phòng thí nghiệm nghiên cứu tế bào di truyền học. Trong cộng đoàn Cha là người bác sĩ tư vấn biết lắng nghe, sẵn sàng ngày cũng như đêm đến giúp đỡ ai kém sức khỏe, dù cho Cha cũng cần nghỉ ngơi vì tình trạng sức khỏe của mình...Trên vách tường chính trong văn phòng Cha, Cha treo bản đồ Trung Hoa và Việt Nam, thêm vào đó là bản đồ Liban lúc ấy đang bị vùi dập trong thảm hoại... Trái tim Cha vẫn tiếp tục đập theo nhịp đập của thế giới ... Sau hai lần nhồi máu cơ tim, Cha được chở đến bệnh viện và qua đời ngày 10 tháng 12 năm 1985.
    Vị linh mục nhân hậu này đã không bao giờ làm ngơ trước những khốn cùng của người khác, đã băng bó thân xác, trí tuệ, và tâm hồn (corps physique, corps mental et corps spirituel) cho bao nhiêu người. Giờ đây Người ra đi lãnh nhận phần thưởng của cả một cuộc đời mà Người đã trọn vẹn dâng hiến cho tha nhân.
    ...Chúng ta có thể rút ra nhiều bài học quý giá từ cuộc sống của Cha, nhưng trong khuôn khổ bài này tôi xin tìm hiểu tại sao Cha có thể hành nghề y khoa với kết quả kỳ diệu trong một hoàn cảnh cực kỳ khó khăn khi Cha chưa được sự huấn luyện y khoa đại học?
    Chính Cha đã kể lại 2 lần giãi phẫu đầu tiên của mình :”người ta mang lại cho tôi một người Hoa ... bị một viên đạn bắn vào đầu. Viên đạn xuyên qua thái dương trái chạy vòng theo hộp sọ rồi nằm vào thái dương phải. Người bệnh hôn mê nhưng luôn miệng chửi thề khiến các nữ tu hốt hoảng. Thế là tôi khoan xương lấy các mảnh xương vỡ ra và rửa sạch phần sọ nhô ra ngoài mà không dám gắp viên đạn ra. Tôi tống cho bệnh nhân rất nhiều kháng sinh (sulfamide). Anh ta tỉnh dậy nhưng không thể nói được ngay, ngoại trừ hét những câu chửi thề như lúc trước ... Vài tháng sau, khi tôi gặp lại anh, anh nói năng gần như bình thường.
    Vài ngày sau lần can thiệp may mắn đó, người ta lại mang đến cho tôi một người bị thương nặng khác. Anh này ngồi trên ngưỡng cửa, bỗng có hai người lính Nhật đi ngang. Để đùa chơi, một người lính đã lấy lưỡi lê đâm vào bụng anh ta. Người ta báo cho tôi hay lúc tôi đang dậy học. Trong vòng 10 phút, tôi xem qua sách giải phẫu khẩn cấp, rồi chạy đến với người bị thương. Thì ra lưỡi lê đã đâm thủng dạ dầy anh ấy, tôi mổ ngay và may lại, cuộc giải phẫu thành công mỹ mãn”.
    Tôi nghĩ rằng hình ảnh người bị thương nặng đã gây nơi Cha một xúc động (émotion), chính cảm giác (perception sensorielle) này đã làm vượt qua lắng sợ sệt, đã kích thích nơi Cha một ý muốn (volonté) mạnh phải cứu họ, và đưa Cha vào bản chất của con người, của vạn vật trong vũ trụ. Bản chất đó là luồng năng lượng mà Giáo sư Phạm Biểu Tâm gọi là”tấm lòng từ bi”, Claude Bernard gọi là”conscience de Dieu”, Walt Withman gọi là”cosmos conscience”và Louis Pasteur gọi là”force vitale”.
    Gần cuối đời mình Louis Pasteur đã tiếc rất nhiều vì không còn thì giờ để nghiên cứu về”force vitale”mà theo ông rất có ý nghĩa, còn Paul Allen sáng lập cùng Bill Gates Microsoft đã bỏ ra hàng tỷ dollars đề tìm kiếm, nhưng theo Claude Bernard tìm kiếm”luồng năng lượng”này không phải là công việc của khoa học vì theo Newton khoa học không tìm kiếm gì mà không có căn bản vật chất với lại”cela reste à l’état de foi, de sentiment, de certitude cependant, et cela me rend heureux.”
    Cá nhân mình, tôi cũng có một tình yêu lớn cho con người, cho thiên nhiên và tôi cũng rất thích hai câu thơ sau của Hồ Dzếnh:
             “Tình chỉ đẹp khi còn dang dở,
               Đời hết vui khi vẹn câu thề”
    nên tôi nghiêng về ý kiến của Claude Bernard .
    Claude Bernard đã viết về kinh nghiệm này như sau :
    “Ce qu’on appelle”tact médical”c’est l’observation ou l’expérimentation comparative faite sans s’en douter, ou bien l’appréciation de certains caractères d’ensemble qu’on ne saurait préciser, pas plus que le paysan qui reconnait bien un chêne ne saurait en donner les caractères. Les gens à tact médical ont peut-être ceci de bon, c’est qu’ils prennent leurs caractères dans l’ensemble des caractères et ce caractère résultant qui n’existe pas à lui seul mais et qui n’est aucun autre; tandis que les médecins dits savants veulent n’avoir égard qu’un caractère et négligent tout le reste, ce qui est faux; En effet, le caractère de chaque chose est dans cet ensemble qui, on pourrait le dire, n’a pas de substratum matériel déterminé et qui se résume par l’expression des appareils d’autant plus parfaits qu’on les considère dans un organisme plus élevé; c’est pour ainsi dire”l’âme de la chose”. Il y aurait beaucoup à dire sur cette espèce d’idéalité de la matière qui existe, puisque c’est là que l’artiste cherche et trouve parfois. Cela n’est nulle part, car on peut le trouver et le placer dans divers points. C’est peut -être le beau dans l’art et la nature .
    Pour être savant , il faut être matérieliste dans la forme, mais réellement on ne peut pas l’être dans le fond mais, si on ne l’était pas dans la forme, on ne pourrait pas s’entendre”.
    Do đó Claude Bernard đã sáng lập nên”y khoa thực nghiệm”dùng phương tiện vật lý hóa học để làm thí nghiệm chứng minh những quan sát của mình để mọi người cùng hiểu ...
    Thế hệ chúng ta các bác sĩ trên 60 tuổi đời, đã”nửa đời loạn lạc nửa đời lưu lạc”; nước mắt mồ hôi đã đổ nhiều trong việc thực thi nỗ lực phi thường để hàn gắn vết thương quá khứ, xây dựng cuộc sống mới, con người mới trong xã hội Âu Mỹ văn minh hiện đại này tuy chẳng bao giờ quên gốc Lạc Việt của mình. Chính những cố gắng thích nghi đó đã làm chúng ta cởi mở hơn, nhậy cảm hơn với con người, với cuộc sống, với nghề nghiệp, và đã đưa chúng ta một cách tự nhiên vào chiều hướng tâm linh. Tâm linh là cái gì bao quát (universelle) như trong tinh thần lá thơ của Bác sĩ Nguyễn Quyền Tài gởi các bạn đồng khóa 71 nhân buổi họp mặt đầu tiên tháng 9/2007. Như vậy chúng ta đã có ít nhiều kinh nghiệm về”tact médical”trên rồi. Chính những kinh nghiệm đó là điều kiện cần thiết để hiểu và giải quyết những thử thách của y khoa trong thế kỷ 21 này : bệnh phì mập, bệnh huyết áp cao, bệnh tiểu đường, bệnh Sida ... ;
    Thay phần kết luận tôi lại xin phép được nói lên ước vọng của mình khi viết bài này. Dân Việt chúng ta vẫn có câu ”Thầy nào trò nấy”. Thầy chúng ta nhân hậu quá, tài năng quá và chúng ta cũng đáng được ”kính nể” lắm chứ, nhưng có lẽ các Thầy chúng ta còn mong chúng ta đóng góp hơn nữa cho nhân loại. Con đường còn lại hiển nhiên là không dễ dàng và tôi nghĩ đến 3 câu thơ của Robert Frost :
    “La forêt me tente sombre et profonde,
    Mais j’ai encore beaucoup de promesses à tenir ,
    Ma route est longue avant de dormir”

    nhưng rồi phần thưởng cuối đời sẽ rất là vĩ đại./.
                                     Quản Phương Thảo


    Hoi Ngo Au Chau 05/07 . Vieng mo Cha Lichtenberger . Cameraman : TTH from quy tran on Vimeo.
    ñÙc Cha Marcel Lichtenberger (1906-1985)
    Đức Cha Marcel Lichtenberger (1906-1985)
    Đức Cha Marcel Lichtenberger (1906-1985)

    1986 Tháng Tư
    ECHOS
    của Cộng Đồng Jésuite
    Nội san lục cá nguyệt

    Đức Cha Marcel Lichtenberger (1906 -1985)


    Gốc ở thành phố Ath (1), sinh ngày 28 tháng 6 1906, một nhà truyền giáo tại Trung Quốc trong 16 năm, sau đó ở Việt Nam gần 18 năm trời, đã tạ thế ở Namur ngày 10 tháng 12 năm 1985. Marcel Lichtenberger luôn là một mẫu người ngoại lệ và ông cũng đã từng bị tù tội dưới chế độ Cộng Sản.

    Chính nhân một buổi thuyết trình của Cha Vincent Lebbe mà Marcel đã nghe thấy tiếng gọi đầu tiên của Trung Hoa Lục Địa. Ông cảm thấy bị thu hút bởi lời kêu gọi phải cố gắng để thích nghi hoàn cảnh của diễn giả như là điệu kiện tất phải có nhằm truyền bá Công giáo tại lục địa rộng lớn này. Trong lúc đi cấm phòng ở tại Arlon (2), khi nói với Cha De Pierpont về ý muốn truyền giáo của mình, ông được khuyên đến học tại trường dòng mà các cha dòng Jésuite người Pháp đã mở ra ở Florennes (3) để thu nhận những người có thiên hướng muộn. Trong vòng 3 năm, Marcel đã học được rất nhiều về ngữ học Hy lạp và La tinh đến độ các Cha đã cho ông làm giáo sư lớp 6 La Tinh trong vòng một năm. Đó là kinh nghiệm sư phạm đầu tiên đã thu trọn tâm tư của ông đến độ ông xin gia hạn nhiệm kỳ thêm một năm nữa.

    Nhân một cuộc du hành đến Rome trong dịp lễ Phục Sinh vào năm thứ hai này, khi thăm viếng ở Gésù các phòng nơi thánh Ignace đã trú ngụ, ông mới thấy được sự tiếp sức nội tâm để hiến mình cho Dòng Tên(Jesuite). Ngày 1 tháng 10 năm 1929, ông vào trường đào tạo (noviciate) của các giáo sĩ Jesuite của Pháp tại Florennes và tình nguyện xin đi làm sứ mệnh ở Trung Quốc. Hai năm sau ông hoàn tất nghiã vụ quân sự phục vụ ngành y tế tại Bourg-Léopold. Tại đây ông đã gặp một vị y sĩ đã giúp ông đào sâu thêm kiến thức tu nghiệp ngành lính trợ y và đồng thời cũng học hỏi được nhiều điều sau này sẽ giúp ích cho ông rất nhiều.

    Ngày 15 tháng Tám 1932 là ngày khởi hành đi Trung Quốc, qua ngã Moscou và bằng con tàu xuyên Sibérie. Cuối tháng Chín, Marcel đến trung tâm truyền giáo ở Sienshin để bắt đầu học tiếng Hoa. Một năm sau ông vào khoa Triết cùng với 14 người Hoa. Trong cộng đồng gồm 80 người này, người ta nhận thấy ông nói tiếng địa phương một cách thuần khiết và ông đã cố gắng thu nhập được những điều căn bản đó trong một thời gian ngắn kỷ lục.
    Triết học làm ông quan tâm nhiều nhưng cũng không chiếm hết thời gian của ông. Ông vẫn luôn thích những việc khéo tay làm lấy. Mới 12 tuổi ông đã làm đươc một cái đài thu thanh bằng Galène. Ở trường dòng, ông được cấp cho một chỗ để làm phòng thí nghiệm để thử nghiệm về vật lý. Đức Cha Jomin, vị khoa trưởng, tiên đoán được khả năng của người học sinh này và sẽ quyết định mang ra sử dụng.

    Cái điện thoại trong nhà dòng dùng để liên lạc giữa các bộ phận thường hay bị hỏng. “Hãy làm cho chúng ta một cái điện thoại tự động,” một ngày kia Ngài nói với ông như thế. Mệnh lệnh nghe thì được lắm nhưng không phải là chuyện dễ. Bằng những sáng tạo tài tình, với những phương tiện tự tìm kiếm được, cộng đồng nay đã có được một điện thoại gọi đến được đúng số, tám lần trên mười, là điều mà vào thời kỳ đó đã là một kỷ lục rồi!

    Trường dòng dạy triết học nằm ngay giữa cánh đồng, cách Tientsin 50 cây số. Các giáo sĩ đã cho xây dựng một bệnh viện để phục vụ cho một dân số cỡ một triệu người trong vòng một bán kính 100 cây số. Một bác sĩ người Hoa có đến hai hay ba lần một tuần. Đôi khi ông ta cũng có nhờ Cha Lichtenberger làm giúp một số xét nghiệm. Khi vắng mặt bác sĩ này, các nữ tu ở đây, khi có trường hợp cấp cứu cũng thường kêu gọi vị Cha dòng Jésuite trẻ tuổi đến giúp đỡ.

    Các Sơ yêu cầu Cha mang ứng dụng những kiến thức học được khi làm việc ở Bourg-Léopold. Ở đây cũng vậy, Đức Cha khoa trưởng còn khuyến khích người thầy thuốc trẻ bắt buộc này phải bạo dạn mà hành động hơn nữa! trước một người bệnh bị tràn dịch màng phổi, Người nói với ông “Con phải chọc dò rút nước ra!” Marcel phải tuân lời cha bề trên đồng thời tra cứu cuốn sách Ngoại Khoa Cấp Cứu và đã giúp được người bệnh. Và chính vì vậy mà Cha Lichtenberger, y tá giáo sĩ dự khuyết, khi đang học về Triết lại ngày càng phải thực hành về ngành Y.

    Học xong phần Triết năm 1936, người thụ giáo nhà dòng được gửi đến học về thần học ở Zikawei, ngoại ô của Thượng Hải. Sau một năm học, ngài Khoa Trưởng báo cho Marcel biết các cha bề trên kỳ vọng ở ông để dạy về môn sinh học. Ngài còn dặn Cha phải biết tận dụng hết sức thì giờ rảnh rỗi của mình. Vì vậy mà Cha đã làm được một máy điện tâm đồ, có lẽ là cái đầu tiên có được tại Trung Quốc!
    Năm 1940, Cha, lúc đó đã được phong chức linh mục năm 1939, trở về Sienhsin và dạy môn sinh học tại đây cùng với môn tâm lý học thực nghiệm.
    Từ năm 1936, người Nhật, đang lúc chiến tranh với Trung Quốc, chiếm lãnh nhiều vùng đất rộng lớn ở Trung Hoa Lục Địa. Ở Sienhsin, không còn bác sĩ phục vụ trong bệnh viện. Các nữ tu quản lý một trạm y tế ở gần trường dòng. Họ thường mời Cha Lichtenberger đến để làm các xét nghiệm và không lâu sau đó - vì cần phải chữa chạy cho người bệnh - Cha phải liều bắt tay giải phẫu.

    Người bệnh được giải phẫu đầu tiên là một người Cộng Sản Trung Quốc, trong một cuộc đụng độ, bị thương do một viên đạn vào đầu. Phim XQuang chụp cho thấy vị trí viên đạn không nguy hiểm. Không nhất thiết phải lấy viên đạn ra, nhưng cần phải làm sạch vết thương, khâu lại và theo dõi diễn tiến… và diễn tiến lại rất tốt sau đó! Cứ như thế cho đến hết chiến tranh Hoa-Nhật, để phục vụ Chúa và dân nghèo, Cha tiếp tục làm công tác của một y sĩ, và còn làm phẫu thuật viên nữa . Ông đã làm cả ngàn cuộc giải phẫu, từ việc cắt Ruột dư đến mổ Césarienne, và cả 102 lần mổ Cườm mắt.

    Năm 1945 tình hình thay đổi, quân Nhật đã rút lui và Trung Hoa nằm trong tay quân Cộng Sản. Và họ chỉ muốn đuổi hết tất cả các nhà truyền giáo ngoại quốc. Cha Lichtenberger sẽ nếm mùi các phương pháp CS, các áp lực chúng dùng để buộc những người vô can phải nhận tội. Chúng vu là cha Lichtenberger đã dùng tay đánh chết 1 phụ nữ nhưng lời tố cáo quá vụng nên được bãi. Cha được trả tự do trong 1 thời gian ngắn. Lần cuối cha bị giam là vào 4 tháng 11, 1947. Thật là nhờ sự sáng suốt và lòng quả cảm mà cha đã đứng vững và không chịu lùi bước trước địch thủ.

    Vào thời Nhật, cha đã đương đầu với bọn xâm lăng để bảo vệ kẻ thế cô, các nữ tu, các thầy tu, và ngay cả vị giám mục bị quản thúc. Một mình với viên sĩ quan, cha Dòng Tên đã tranh luận cho đến khi thắng. Nhưng phương pháp của CS thâm độc hơn thế, chúng không chấp nhận bàn luận hay yêu sách, kẻ bị gọi ra trước tòa chỉ có đường nhận tội mà thôi.

    Quả là cha can trường và không chùn bước mặc dù phải nghe những tiếng kêu la của các tù nhân bị tra tấn ở các phòng giam kế cận hay khi nghe một tên sĩ quan dọa: “Mai tụi tao sẽ bắt mày khai.” Cha bị giam biệt lập cùng với 3 vị tu sĩ Dòng Tên người Pháp và 1 vị linh mục Trung Hoa, - lần cuối cùng thời gian quản thúc kéo dài 9 tháng- , 1 người gác Trung Hoa có mặt thường trực trong phòng.

    Cuối cùng vị tu sĩ Trung Hoa lãnh án 1 năm khổ sai và bị tước quyền công dân trong 2 năm; 4 nhà tu người Âu bị trục xuất ngày 29 tháng 7, 1948 “ về tội muốn giữ nhân dân trong vòng nô lệ và cũng vì bị nhiễm vi trùng tư bản quá n
    ng.” Cha mất
    30 kí lô. Ngài vẫn giữ văn kiện đầy chữ và triện Tàu ghi bản án của mình........1948, Cha Lichtenberger trở về Pháp. Các bề trên nhận thấy cha cần học nốt năm thứ 3 tại chủng viện và cũng để lấy bằng y sĩ. Cha học Y khoa tại Louvain (4) từ 1949 đến 1954. Năm 1953, khi đi thực tập tại Mont-sur-Meuse, nơi điều trị bệnh Lao, cha để ý tới 1 loại mốc trụ sinh đã được khám phá tại phòng thí nghiệm của viện. Cha say mê khảo cứu và dược phòng Christiaens de Bruxelles đã dành cho cha những phòng thí nghiệm để tiếp tục công trình này từ 1955 tới 1957.

    Lúc cha đang tùng sự tại collège Saint-Jean Berchmans, bề trên đề nghị cha qua Việt Nam điều khiển khu Mô và Bào Thai Học tại Viện Đại Học Saigon. Cha là vị tu sĩ Dòng Tên duy nhất trong ban giảng huấn trong 17 năm rưỡi. Nghiên cứu và giảng dậy là những hoạt động chính hàng ngày của cha.

    Một dịch vụ y khoa duy nhất tại Việt Nam được thiết lập, đó là tham khảo di truyền cho các y sĩ bệnh viện. Cha Marcel không phải chỉ lo chuyện khoa học mà thôi. Sáng chủ nhật cha thường đến khám bệnh tại 1 chẩn y viện dành cho người nghèo do 1 tu sĩ Việt Nam điều hành và tại 1 cô nhi viện. Ngoài ra lại còn những công tác tuyên úy cho các y sĩ công giáo trong thành phố, liên lạc với giới sinh viên, các buổi họp tại Trung Tâm Văn Hoá Pháp. Cha cũng quan tâm tới vấn đề giữ thể diện cho Giáo Hội trước phong trào bài xích tôn giáo tại Saigon.
    Năm 1975, cha Lichtenberger phát chứng đau tim và phải trở về Âu châu.
    Cha được đưa đến Lille (5) và từ đó tới Namur (6). Tại đây cha tiếp tục nghiên cứu tại khu di truyền học.
    Trong cộng đồng ban giảng huấn, cha tiếp tục theo dõi sinh hoạt và tình hình chính trị thế giới. Cha hay nghe đài Moscou, Bắc Kinh, BBC và VOA, luôn luôn đi tìm tin tức trực tiếp. Các bản đồ địa dư treo trong phòng cho biết cha có trái tim đập theo nhịp của thế giới.

    Cũng trong cộng đồng này, cha là vị “ bác sĩ” hàng ngày thăm hỏi những ai đau yếu, lúc nào cũng sẵn sàng giúp ý kiến, quan tâm đến từng người, ngay cả giữa đêm khuya và mặc cho sức khỏe cá nhân mình không được tốt, đang cần sự chăm sóc.

    Ngày mồng 8 tháng 12, 1985 cha Lichtenberger lại cảm thấy rất mệt. Cha biết và chấp nhận bệnh tình mình 1 cách can đảm, bình tĩnh.
    Cha Lichtenberger mất tại nhà thương ngày 10 tháng 12 trong lòng thanh thản và quả cảm, hai nét chính phản ảnh tâm hồn mình trong suốt cuộc đời.
       Ghi chú các địa danh:
    (1): Ath: thành phố ở phía tây- Nam của Bruxelles
    (2)
    : Ảrlon: Thành phố ở phía đông của Bỉ , gần biên giới Luxembourg
    (3)
    : Florenne: thành phố nhỏ thuộc tỉnh Namur , đông- nam của Bruxelles
    (4)
    : Louvain: ở phía Bắc Bruxelles cách 30 kms
    (5)
    :Lille: thành phố lớn của miền Bắc nước Pháp
    (6)
    :Namur: thủ phủ của vùng nói tiếng pháp của Bỉ (Wallonnie), cách Bruxelles 70 kms , về phía Đông-Nam
    BS Phan Thi Mai
    BS Nguyễn Đình Phúc
    Dịch thuật