Chủ Nhật, 16 tháng 8, 2026

Giáo Sư Trần Ngọc Ninh...

 




2022 Thầy Trần Ngọc Ninh ở tuổi bách niên.
Theo BS Đặng Phú Ân.
Năm nay, 2022 giáo sư Trần Ngọc Ninh vừa đúng 100 tuổi ta (ngày sinh nhật của Thầy 6-11-1923). Như vậy, Thầy là vị Thầy Y khoa kính mến thượng thọ nhất còn lại với chúng ta. 
Sức. khoẻ về già như ngọn đèn trước gió, có thể vụt tắt bất cứ lúc nào. Vì vậy, đầu tháng 8 năm 2022 vừa qua, nhân dịp đi công chuyện và nghỉ hè tại thành phố Waikiki-Honolulu, trên đường về Montréal, máy bay ghé qua phi trường LAX (Los Angeles), tới Los vào lúc 7 giờ sáng, được nghỉ tới 8 giờ tốicùng ngày, mới có chuyến bay về Montreal, vợ chồng chúng tôi đã tận dụng thời giờ, gọi Taxi Uber đi về Hungtinton Beach, Santa Ana để kính thăm Thầy Trần Ngọc Ninh. Vì xa lộ lúc đó rất kẹt, hơn nữa phải trở lại phi trường cho kịp chuyến bay chiều, nên chúng tôi không dám liên lạc với một ai trong gia đình cũng như bạn bè thân thiết.
Khi trở lại Montréal, Bác sĩ Thân Trọng An, Chủ bút Tập San Y Sĩ và Bác sĩ Nguyễn Thanh Bình (Ban Báo Chí), đã gợi ý tôi nên viết đôi điều cho anh chị em biết về tình trạng sức khoẻ của Thầy cũng như những điều Thầy còn nhớ. Một đề nghị rất quý một việc rất đơn giản và hân hạnh, tôi cố gắng ghi lại ở đây những điều gì Thầy đã nói và đã được ghi nhanh qua iphone của tôi. Xin hân hạnh kính chuyển tới tất cả những học trò kính quý của Thầy ở khắp nơi một cách chân thành và đơn sơ.
 Tình trạng sức khoẻ của Thầy:
Đã xin hẹn trước để tới kính thăm Thầy, chúng tôi được chị Kim Anh, ái nữ của Thầy đã đón tiếp chúng tôi rất nồng hậu và nhiệt tình. Chị hướng dẫn chúng tôi lên lầu thăm Thầy. Thầy Ninh đã ngồi sẵn tại ghế để nói chuyện với học trò. Gặp chúng tôi, Thầy nhoẻn miệng cười rất tươi và vồn vã đưa hai tay nắm chặt tay tôi. Thật cảm động tình thầy trò.
Như mọi lần đến thăm hay gọi điện thoại, Thầy vẫn với một giọng nói ấm cúng và thân mật:
 Ân, Kim Nhi đấy à!
Tôi hỏi thăm sức khoẻ của Thầy, Thầy trả lời rất rõ ràng:
- Nói chung thì cũng khoẻ, tương đối ổn định. Chỉ có một điều đi đứng hơi khó khăn.
Bác sĩ Bùi Đắc Lộc, trước đây là Nội trú của Thầy ở Bệnh viện Bình Dân, hiện nay đang theo dõi sức khoẻ cho Thầy rất kỹ càng. Thêm vào đó, chị Kim Anh, ở bên cạnh Thầy chăm sóc cho Thầy rất chu đáo, tận tình. Mỗi tuần, hai ba lần dịch vụ săn sóc tại gia (Home care) cũng có tới để phụ giúp Thầy. Thầy nói chỉ có một lần vì đi đứng đau khớp xương, Thầy đã uống chỉ có một viên Ibuprofen mà Thầy bị chảy máu tiêu hoá (G.I. bleeding), Thầy phải vào bệnh viện được truyền 7 bịch máu và khoẻ trở lại.
Đại dịch Covid đã ảnh hưởng tới gia đình Thầy, rất tiếc thương, cô Ninh, người bạn đời thắm thiết, yêu thương của Thầy đã ra đi, Thầy cũng bị lây nhiễm Covid, nhưng nhờ sức lực mạnh mẽ mà Thầy đã thoát khỏi được đợt lây nhiễm này.
Làm sao Thầy có được, trí óc minh mẫn, sáng suốt?
Điểm đặc biệt nhất: Bao nhiêu lần đến kính thăm Thầy, tới nay, 100 tuổi, tôi thấy Thầy vẫn minh mẫn, trí óc sáng suốt, trí nhớ thì thật siêu đẳng, lần lượt chúng ta sẽ nghe Thầy kể chuyện dưới đây!
Tôi hỏi:
- Thưa Thầy, làm sao Thầy vẫn giữ được trí óc minh mẫn và sáng suốt.
Thầy nói như đang giảng cho sinh viên tại phòng 10 Bệnh viện Bình Dân ngày nào:
- Ân biết là bộ óc rất cần oxygen, nên tôi tập thở là chính, một vài
động tác, 5, 7 lần mỗi ngày, khi nằm cũng tập như khi ngồi. Giơ hai tay lên đầu, giơ hai tay ngang, giơ hai tay xuống chân thì cũng như phổi có 3 thùy, thùy trên, thùy trung, thùy dưới. Thầy làm cử chỉ động tác ngay lúc đó cho chúng tôi xem, tôi có quay video giữ lại.
Tôi hỏi tiếp:
- Thưa Thầy, mỗi động tác như vậy 2 lần?
Thầy sửa lưng tôi ngay:
- 20 lần mỗi động tác, cũng như trong Kung Fu, khí công tập thở là chính.
 Việc tìm Thầy học đạo về chuyên môn y khoa của Thầy:
Thầy kể: Khi tôi xin Giáo sư Huard đi học giải phẫu tiểu nhi, ông Huard nói với tôi: “Giải phẫu tiểu nhi có gì đâu mà phải học!
Sau đó, Giáo sư Huard đã gửi giấy giới thiệu tôi cho Giáo sư Robert Merle d’Aubigné. Thầy nhấn mạnh: Thật ra giải phẫu tiểu nhi có cái đặc thù của nó, từ gây mê, hồi sức, tới kỹ thuật giải phẫu các bộ phận trẻ con phải nắm vững từ bào thai học (Embryologie). Giáo sư Merle d’Aub- ingé nổi tiếng tại Pháp và trên trường quốc tế (Chủ tịch Hội Phẫu Khoa Trực Nhi Pháp, và Chủ Tịch Hội Phẫu Khoa Trực Nhi Quốc Tế S.I.C.O.T).
Những tháng đầu, tôi vẫn còn lang thang ở hành lang bệnh viện Cochin, sau đó, vì chịu khó tìm tòi, học hỏi. Giáo sư D’Aubingé đã cảm nhận được công sức học hỏi, làm việc của tôi, ông đã gọi tôi đi mổ với ông tại nhà thương tư (vì ở bệnh viện Cochin phải dành cho Nội trú chính thức của ông), Giáo sư D’Aubingé còn cho tôi tham dự vào việc giảng dậy tại đại Giảng đường trường Đại học Y khoa, và đặc biệt, bài viết của tôi, ông đã đem giới thiệu trên Journal of Bone and Joint” của Anh quốc, và trên Tập san “Revue de chirugie Orthopédique et de traumatologie”. Tên tôi đứng sau tên ông Thầy Merle D’aubingé. Đó là vinh dự nhất đời đầu tiên của tôi.
Sau thời gian học Orthopédie với Giáo sư Merle D’Aubigné ở Pháp, Giáo sư D’Aubigné không ngần ngại gửi giấy giới thiệu tôi cho Giáo sư Pierre Petit ở Bệnh viện Enfants Assistés, để học tiếp giải phẫu Trực nhi và Phẫu nhi (Hôpital orthopédique et chirurgie infantile Saint Vin- cent de Paul), Giáo sư Petit nổi tiếng trên thế giới về việc giải phẫu các dị tật bệnh bẩm sinh ở trẻ con (nhất là ở miệng, tật xẻ môi) và trẻ con thiếu tháng.
Tiếp tục học giải phẫu tại Anh quốc:
Cũng năm 1954. Tôi đã qua Anh với giấy giới thiệu của Giáo sư Merle gửi cho Giáo sư J. Trueta ở Oxford và Giáo sư Herbert Sad- don ở London nổi tiếng của nước Anh về giải phẫu Trực nhi và Phẫu nhi.
- Ngoài ra, Thầy còn đề cập tới các vấn đề đặc biệt về y khoa như: - Paraplegie pottique, Mal de Pott, Tuberculose osteo- articulaire. - Luxation congénitale de la hanche (trật khớp hông bẩm sinh),
Pseudarthrose congénitale.
- Asepsie dans la chirurgie
- Invagination intestinale aigue ...
Thầy cũng nhắc tới Bác sĩ Norman Hoover, người đã đậu chuyên
môn Trực nhi Phẫu khoa ở Mayo Clinic, đã cộng tác với khu Trực nhi người lớn ở Bệnh viện Bình Dân và đã được Hội Đồng Khoa chấp thuận cho làm Giáo Sư Phụ Giảng (Assisstant Professor), và là Cố vấn Viện trợ Y khoa Hoa Kỳ tại Viêt Nam.
Thầy nhấn mạnh đến tình trạng lao xương khớp và bệnh lao xương sống. Một tình trạng bệnh lý khá thông thường ở Việt Nam cũng như bên Niệu khoa vấn đề lao thận và lao toàn hệ thống niệu sinh dục (Tu- berculose rénale, Tuberculose uro-génitale), Nhưng với thời hiện đại, bệnh lý về lao không còn xuất hiện nữa.
Vì lý do hạn hẹp của khuôn khổ tờ báo, chúng tôi không thể viết kỹ hơn để đi sâu chi tiết các tiết mục này.
Như vậy Thầy Ninh trong thời trẻ đã lặn lội qua nhiều khó khăn trong giai đoạn cam go của đất nước: một bên gia đình và đất nước, một bên phải tìm cách xuất dương du học, cố gắng theo đuổi những ông Thầy nổi tiếng tại Pháp và Anh về hai chuyên khoa Trực nhi và Tiểu nhi (Chirugie Orthopédique et Chirugie Infantile).
 Thời kỳ sau ngày 30-4-1975 tại Bệnh viện Bình Dân:
- Sau ngày 30-4-1975, Giáo sư Tôn Thất Tùng của Y khoa miền Bắc vào thăm bệnh viện Bình Dân.
Thầy nói: Như anh Ân đã biết, Giáo sư Tôn Thất Tùng đã vào thăm bệnh viện Bình Dân chúng ta sau ngày 30-4-1975, trước đây, tôi chỉ là Externe (Ngoại trú) của anh Tùng tại bệnh viện Phủ Doãn, ngày đó, chỉ có anh Phạm Biểu Tâm mới là Nội trú chính thức (Interne titulaire) của anh Tùng.
Anh Tùng rất quý và thân mật với chúng tôi. Trên hành lang bệnh viện Bình Dân, anh Tùng đi giữa, anh Phạm Biểu Tâm và tôi đi hai bên, anh Tùng nói với tôi: “Mi mà dám mổ trẻ con à?”.
- “Thưa anh Tùng, muốn mổ trẻ con, phải học lại từ đầu, từ bào thai học” (Embryologie) (Thầy Ninh nhấn mạnh vì anh Tùng quen gọi tôi bằng “Mi” và anh Tùng mổ cas trẻ em nào dưới 12 tuổi là chết!) Nhưng anh Tùng đã giỏi từ thời Giáo sư Huard, không phải xã hội chủ nghĩa đã tạo nên anh!
- Trường hợp mổ song sinh dính liền tại bệnh viện Nhi Đồng:
Thầy Ninh nói: “Như Ân biết, hồi đó năm 1977, chính tôi đã mổ thành công một trường hợp hai bé dính liền tại bệnh viện Nhi Đồng, Sai- gon, cas này đã được anh Tôn Thất Tùng giới thiệu với y khoa Liên Xô (Moscou) và Moscou rất kinh ngạc và khâm phục nền Y khoa đại học của miền Nam sau ngày mất nước! Từ đó uy tín của bệnh viện Nhi Đồng và Khoa Phẫu thuật Nhi được phe cộng sản chào thua.
Ảnh hưởng tốt này vẫn tiếp tục khi tôi đã bỏ nước ra đi và anh Võ Thành Phụng ở lại, vẫn được họ kính mến nhờ uy tín của tôi.
 Quan điểm về công tác viết văn của Thầy:
- Ông Thầy quan niệm: Nghề thầy thuốc vẫn là nghề chính của Thầy, cho nên khi Cali đề cử Thầy làm Chủ tịch Văn Bút, Thầy đã từ chối, Thầy nói: “Đối với những văn-thi sĩ, nghề chính là nghề cầm bút, nghề của tôi là nghề thầy thuốc có bổn phận đối với bệnh nhân là cái chính. Tôi viết văn, viết sách chỉ để đóng góp chút ít vào nền văn học, văn hoá Việt Nam và cũng là một cái thú vị và tiêu khiển cho đời sống, chứ không phải sống chết với nghề cầm bút này”. Thầy chỉ nhận chức Viện Trưởng Viện Việt Học mà thôi.
 Cuộc hành trình vượt biển.
Thầy tiếp tục tâm sự: Tôi rời Việt Nam vào ngày thứ Hai mùng 6 tháng 6 năm 1977, đúng vào ngày thứ hai đó, trên trường Đại Học Y Khoa Saigon, người ta làm lễ vinh danh 2 vị trong Ban Giảng Huấn của chế độ cũ, được Hội đồng Chính phủ giữ lại ở chức vụ Giáo sư thực thụ. Sau khi xứng danh Giáo sư Phạm Biểu Tâm thì đến tên tôi Giáo sư Trần Ngọc Ninh: Vắng mặt!!.
Sau khi lênh đênh trên biển cả gần một tuần lễ, thuyền vượt biên chở gia đình Thầy và một số gia đình khác, đã tạt vào Pulau Besar ở Mã Lai. Tôi đã biên thư trực tiếp cho ông Ngoại trưởng Hoa Kỳ, chính ông Ngoại trưởng Hoa Kỳ khi được tin Thầy đã tới được đảo của Mã Lai, ông đã can thiệp với chính phủ để gia đình Thầy được định cư tại Hoa Kỳ: Một dịp may hiếm có, đồng thời có một vị Giáo sư Hoa Kỳ tại Đại học Denver-Colorado cũng đã xác nhận với ông Ngoại trưởng Hoa Kỳ: “Ông ta – Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã cùng thời làm Giáo sư Đại Học Y Khoa Saigon với tôi và xin Ngoại trưởng can thiệp để gia đình Giáo sư Ninh được định cư tại Denver-Colorado”.
Trong khi đó, ở Pháp Giáo sư Huard được tin và cũng đặc biệt muốn bảo lãnh gia đình Thầy qua Pháp. Nhưng sau cùng Thầy đã quyết định chọn Hoa Kỳ là nơi quê hương thứ hai.
Tháng 9 năm 1977 (tức 3 tháng sau), chính phủ Hoa Kỳ cử 2 người tới đón gia đình chúng tôi định cư tại Denver-Colorado.
 - Tình nghĩa với người bạn đồng môn khắng khít: Giáo sư Đào Đức Hoành
Nhắc lại Bệnh viện Bình Dân trước đây: Ba Thầy: Thầy Trần Ngọc Ninh, Thầy Đào Đức Hoành, Thầy Ngô Gia Hy cũng rất hay gặp nhau, vì là những đồng môn từ thời bệnh viện Phủ Doãn, Hà Nội.
Văn phòng của Thầy Ngô Gia Hy thì ở ngay khúc quẹo từ khu Chỉnh trực để đi tới khu Ung thư. Nên đôi khi, tôi thấy trong văn phòng Thầy Hy có hội tụ cả ba Thầy, Thầy Ninh, Thầy Hy và Thầy Hoành. Ba Thầy thường họp hành và tâm sự với nhau.
Khi biết tin Thầy Đào Đức Hoành (ở Montreal, Canada) bị lâm trọng bệnh, Thầy Ninh đã bay từ Hoa Kỳ qua để thăm hỏi và nhất là lúc Thầy Hoành hôn mê, Thầy Ninh đã có mặt và đứng ngay bên cạnh giường bệnh của Thầy Hoành (au chevet) tại Jewish General Hospital. Ngày
đó, bản thân tôi, học trò của hai Thầy cũng được chứng kiến tình nghĩa bạn bè khắng khít, rất cảm động của hai Thầy lúc đó.
 - Đề cập tới biên khảo mới nhất của Thầy: “Phật Bà Quan Âm - Nguyễn Du và Đoạn Trường Tân Thanh”.
Có thể nói, Thầy Trần Ngọc Ninh rất tâm đắc với biên khảo Phật Bà Quan Âm - Nguyễn Du và Đoạn Trường Tân Thanh” mà Tập San Y Sĩ Canada vừa phát hành và phổ biến trên Tập San Y Sĩ số 225 (5-2022).
Hy vọng, đây không phải là biên khảo cuối cùng của Thầy. Thầy nói: “Trước đây các học giả như ông Đào Duy Anh (tác giả của nhiều bộ tự điển) và Giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã có những nghiên cứu “Nguyễn Du và Đoạn Trường Tân Thanh” (tức truyện Kiều), nhưng tôi không đồng ý lắm. Như việc, ông Đào Duy Anh nói là Nguyễn Du đã viết Đoạn Trường Tân Thanh từ năm 18 tuổi, điều này tôi không đồng ý với ông, vì 18 tuổi làm gì viết được áng thư tuyệt tác Đoạn Trường Tân Thanh như vậy, Thầy Ninh nhấn mạnh, Thầy đã bỏ công sưu tầm và nghiên cứu kỹ nguồn gốc và nội dung về tâm trạng của một Nguyễn Du (bút hiệu Tố Như) và Đoạn Trường Tân Thanh: Tố Như đã dùng một người con gái tài sắc bị đầy đọa bởi xã hội, theo một cái “nghiệp” và vì Tố Như đã theo đạo Phật nên đã có những tâm ý “giải nghiệp” cho sự sống của con người.
Nói đến Đoạn Trường Tân Thanh và Tố Như, đạo Phật, cơ cấu Việt ngữ...Thầy Ninh rất thích bàn luận, nhưng vì thời giờ được ngồi nghe Thầy nói chuyện cũng đã lâu, phải để Thầy nghỉ ngơi, và hơn nữa, chúng tôi cũng phải xin cáo lui vì phải trở lại phi trường Los Angeles để kịp thời gian “check-in” và lên chuyến bay chiều về lại Montréal.
Trước khi chia tay ra về, trong sự lưu luyến, Thầy đã không quên nhờ tôi gửi lời thăm hỏi tất cả các học trò, đồng nghiệp và bạn hữu tại Canada, đặc biệt Thầy gửi lời thăm tới anh Thân Trọng An và các anh em của Tập San Y Sĩ Canada.
Trong nháy mắt, taxi Uber vừa text để gọi đã tới trước cửa và chúng tôi đã nắm chặt tay Thầy để kính chào tạm biệt và kính chúc Thầy luôn được Thân Tâm An Lạc, trường thọ ở mãi với chúng ta.
Chị Kim Anh đã mau mắn đưa chúng tôi xuống cầu thang, để tiễn ra tời tận xe Taxi Uber đã đậu ngay trước cửa nhà.
 
THAY LỜI KẾT:
- Trong tâm tưởng: Kính nhớ một người Thầy.
Trên chuyến bay Air Transat Los Angeles-Montreal, 6 giờbay trong
đêm, về tới Montreal, bình minh cũng vừa ló dạng, tôi đã không ngủ được và nghĩ miên man: Sau những giây phút vừa được kính thăm Thầy, tình cảm thật hỗn độn: có VUI vì đã sắp xếp được thời giờ kính thăm Thầy trong khoảnh khắc (phải xin cám ơn một lần nữa chị Kim Anh, ái nữ của Thầy đã tạo cơ hội cho được gặp Thầy, vui hơn nữa là đã đón nhận được những sự dậy dỗ, chỉ bảo quý báu của Thầy (11 năm tôi làm việc ở bệnh viện Bình Dân, Thầy rất bận rộn và ít khi được ngồi nghe tâm sự của Thầy), Thầy đã vận dụng trí nhớ để kể lại cho học trò nghe những giai đoạn với những ưu tư, những cố gắng, những kinh nghiệm cũng như những thành công Thầy đã đạt được trong cuộc sống trên đường đời, nhân 100 năm tuổi đời của Thầy. 
Có BUỒN, có NHỚ THƯƠNG vì không biết có lần nào khác được diện kiến với Thầy nữa không? phần vì tuổi Thầy đã rất thượng thọ, phần vì tình hình dịch bệnh, đường xá xa xôi, đi lại khó khăn, chính sách y tế thay đổi mỗi lúc và từng địa phương.
Tuy có một điều mà không những chúng tôi và chắc chắn của nhiều vị niên trưởng, học trò khác trong y giới phải công nhận là Thầy Trần Ngọc Ninh ở tuổi cao niên nhất. Với tuổi đời chồng chất Thầy đã liên tục cố gắng rèn luyện, học tập từ khi còn trẻ, mang hết lương tâm khi hành nghề phục vụ cho bệnh nhân (người lớn, trẻ con), chu toàn nhiệm vụ giảng dậy, giáo dục, Thầy còn phải phấn đấu với thời cuộc, với hoàn cảnh đất nước, với sức khoẻ con người, tới nay Thầy đã 100 tuổi rồi mà bộ óc của Thầy vẫn còn sáng suốt, minh mẫn với một trí nhớ tuyệt vời. Thầy đã không quên một chi tiết nhỏ nào..tạo nên một khúc phim sống thật sôi nổi, một tấm gương sáng cho toàn thể học trò rải rác khắp năm châu.
Tất cả y giới Việt Nam trong và ngoài nước luôn luôn tâm niệm và cầu mong Thầy TRẦN NGỌC NINH kéo dài được tuổi THỌ, trong một cuộc sống đầy THÂN TÂM AN LẠC.
 
Montreal, mùa Hạ 2022 Môn sinh Đặng Phú Ân

Giáo Sư Trần Ngọc Ninh và ước vọng duy tân
10/07/2018

Tôi mơ về một nước Việt Nam hòa bình, tân tiến trên nền tảng của những giá trị tinh thần mà lịch sử đã nhồi vào nền văn hiến của nước ta. Cả cuộc đời xã hội của tôi là để đóng góp vào sự ước mong ấy.
Trần Ngọc Ninh, Ước Vọng Duy Tân, 2012
Ngô Thế Vinh
Đến thăm Gs Trần Ngọc Ninh, Huntington Beach ngày 21 & 29 tháng 06.2018, ở tuổi 95 mà Thầy vẫn còn rất minh mẫn và sắc bén; trên bàn là những số báo Tình Thương (1963-1967) có các bài viết của Thầy. [tư liệu Ngô Thế Vinh]
TIỂU SỬ 
Trần Ngọc Ninh, tên thật, còn có bút hiệu Kỳ Ngọc, Trần Ngọc, Trần Lê
sinh ngày 6 tháng 11 năm 1923 tại Hà Nội, nguyên quán Ninh Bình Bắc Việt, thân phụ là giáo viên nghèo, đôi khi nhà không đủ ăn; vừa đi học vừa viết báo phổ thông y học như với tờ Vui Sống để kiếm sống với bút hiệu Kỳ Ngọc; một số bài báo còn sưu tập được đã đăng lại trong Tuyết Xưa . (2)
1939: Học sinh trường Bưởi, sinh viên Khoa học ban Toán cùng với Triều Sơn, rồi chuyển sang học Y khoa.
1946-1948: Cựu nội trú các bệnh viện Hà Nội.
1948: Luận án Tiến sĩ Y khoa: "Contribution à la Physiopathologie des Traumatismes Thoraciques".
1948-1952: Bác sĩ thường trú bệnh viện Yersin / Phủ Doãn Hà Nội
1952-1954: Sang Pháp du học với Gs Robert Merle d'Aubigné ở bệnh viện Cochin về ngành giải phẫu chỉnh trực và với Gs Pierre Petit về ngành giải phẫu tiểu nhi ở bệnh viện St Vincent de Paul; qua Anh tu nghiệp về giải phẫu thần kinh ngoại vi và xương sống với Gs Herbert Seddon.
1954: Di cư vào Nam sau Hiệp định Geneve, cùng với các giáo sư Phạm Biểu Tâm, Nguyễn Hữu, Đào Đức Hoành, Ngô Gia Hy, Nguyễn Đình Cát... và trở thành ban giảng huấn cốt cán của Đại học Y Khoa Sài Gòn sau khi người Pháp rút đi.
1961: Thạc Sĩ Y khoa Pháp / Agrégation des Facultés Françaises de Médecine, Section Chirurgie Orthopédique.
1961-1967: Giáo sư phẫu khoa chỉnh trực và phẫu nhi khoa, Đại học Y khoa Sài Gòn, Việt Nam
1966-1967: Tổng trưởng Văn hóa Xã hội đặc trách Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa, chủ trương phát triển phong trào thanh niên, đưa Hướng đạo vào sinh hoạt học đường.
1956-1977: Trưởng khoa phẫu thuật chỉnh trực, bệnh viện Bình Dân Sài Gòn.
1966-1975: Giáo sư Văn minh Đại cương và Văn Hóa Việt Nam, Đại học Vạn Hạnh Sài Gòn, Việt Nam.
1967: Thành viên sáng lập Tổ chức Hội đồng Bộ trưởng Giáo dục Đông Nam Á (SEAMEO / South East Asian Ministers Education Organization) Bangkok & Singapore.
1968-1975: Hội viên Hội đồng Soạn thảo Danh từ Chuyên môn, Sài Gòn, Việt Nam.
1969-1975: Hội viên Hội đồng Văn hóa Giáo dục, Sài Gòn Việt Nam.
1977: Ngày 6 tháng 6, cùng gia đình vượt biển tới đảo Pulau Besar Mã Lai, chọn định cư tại Hoa Kỳ.
1978-1980: Thi ECFMG & FLEX như một bác sĩ ngoại quốc, vẫn phải qua thời gian thực tập tại các bệnh viện ở Denver, Colorado; rồi Pittsburg với các Gs James S. Miles và Gs William B. Kiesewetter cùng là giáo sư y khoa bạn cũ trong ngành phẫu nhi khoa / Pediatric Surgery với ông trước kia.
Giữa thời gian đèn sách, ông vẫn hoàn tất một tập luận đề chính trị "Làm Gì" trên 300 trang, với ghi chú nơi cuối sách: "Viết xong lúc giữa trưa ngày 24 tháng 3 năm 1979 tại Trường Sơn của Mỹ Châu" . (Rocky Mountains Ranges Denver, Colorado / ghi chú của người viết)
1980: Trở lại hành nghề Y khoa tại Nam California, nhưng chủ yếu vẫn là các hoạt động văn hóa giáo dục; viết bài cho các báo Tập San Y Sĩ, Thế Kỷ 21, Khởi Hành...
2000: Tham gia Ban Cố vấn Viện Việt Học (Westminster, California) do Gs Nguyễn Đình Hòa sáng lập.
2003-2008: Viện trưởng Viện Việt Học, giáo sư giảng dạy lớp Ngữ pháp Việt ngữ tại Viện Việt Học.
2018: Vẫn minh mẫn ở tuổi 95, hiện cư ngụ tại thành phố Huntington Beach, miền Nam California.

TÁC PHẨM
Văn Hóa
_ Những Vấn đề Văn h óa Giáo dục và Xã hội [Sưu tập Diễn Văn của Gs Trần Ngọc Ninh, Tổng trưởng Văn hóa Xã hội đặc trách Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa] Sài Gòn Việt Nam 1966.
_ Văn h óa Dân tộc trước những Nhu cầu của Đất nước; Nxb Vovinam, Sài Gòn Việt Nam 1969.
_ Đức Phật Giữa Chúng Ta. Nxb Lá Bối, Sài Gòn Việt Nam 1972.
_ Làm Gì? Tập Luận đề Tháng Chín. Với bút hiệu Trần Lê. Nxb Việt Nam Hải Ngoại, California 1979.
_ Tuyết Xưa; Tuyển tập các Vấn đề Văn hóa Việt Nam, Nxb Khởi Hành California Hoa Kỳ 2000.
_ Tố Như và Đoạn Trường Tân Thanh. với những giả thuyết mới về Nguyễn Du và Đoạn Trường Tân Thanh, cũng như mối liên hệ giữa Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương. Nxb Khởi Hành & Viện Việt Học, California Hoa Kỳ 2004.
_ Cơ Cấu Việt Ngữ, Nxb Lửa Thiêng Sài Gòn Việt Nam 1973; Viện Việt Học California Hoa Kỳ tái bản 2009 .
_ Dạy Đọc Dạy Viết Tiếng Việt. Viện Việt Học, California Hoa Kỳ 2010
_ Ước Vọng Duy Tân. Văn H óa , Huyền Thoại, Văn Học Sử. Tuyển tập Trần Ngọc Ninh. Viện Việt Học, California Hoa Kỳ 2012.
_ Ngữ Pháp Việt Nam [Viện Việt Học, California Hoa Kỳ 2017].
_ Ngữ Pháp Tiếng Việt Đầu Tiên, Cho Tuổi 5 Năm - 15 Năm [Viện Việt Học, California Hoa Kỳ 2017].

Một số tác phẩm của Gs Trần Ngọc Ninh. [tư liệu Ngô Thế Vinh]
Y Học
_ Nhà Thương , Phóng sự, Nxb Văn Hóa Hà Nội, Việt Nam 1946.
_ Thượng Kinh Ký Sự / Éthique Médicale de la Médecine Traditionnelle du Vietnam, d' après les Mémoires d'un Voyage à la Capitale de Hải Thượng Lãn Ông (18e siècle), Isis, Bruxelles, Belgique 1950.
_ Những Bệnh Cần Cấp Cứu , Gió Việt, Sài Gòn Việt Nam 1956.
_ Một Chút Lịch sử Y khoa Đại học đường Sài Gòn. Tập San Y Sĩ, Montréal Canada 2000.
_ Lịch sử hình thành hai Chuyên khoa Y Học: Phẫu khoa Chỉnh trực và Phẫu Nhi khoa ở Việt Nam. Tập San Y Sĩ, Montréal Canada 2000.
_ Hơn 200 bài khảo cứu chuyên khoa được in trong các Tạp chí Y khoa xuất bản tại Việt Nam, Pháp và Mỹ.

GIÁO SƯ Y KHOA LỖI LẠC
Sự nghiệp Y khoa của Thầy Ninh đã được đồng nghiệp và các môn sinh viết khá đầy đủ. Bài này chủ yếu viết về một chân dung văn hóa của Gs Trần Ngọc Ninh.

VỚI BÁO SINH VIÊN Y KHOA TÌNH THƯƠNG
Học Y khoa, tôi không phải là học trò theo cái nghĩa là đệ tử ruột của Gs Trần Ngọc Ninh: học trò của Thầy Ninh ở trường Y có thể đếm trên mười đầu ngón tay: rất sớm có Bùi Duy Tâm, Phạm Văn Biểu, cả hai đều dở dang, rồi Vũ Văn Nguyên mất sớm khi du học Mỹ, và sau này là Trần Xuân Ninh (Ninh Con, để phân biệt với Ninh Bố là Thầy Ninh), Võ Thành Phụng, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Lương Tuyền... Khác với Gs Phạm Biểu Tâm được sinh viên Y khoa yêu mến; với Gs Trần Ngọc Ninh, sinh viên có thể nể phục tài năng kiến thức và cả cái uy của ông nhưng một số không thích ông vì quá nghiêm khắc.
Tôi gần gũi với Gs Trần Ngọc Ninh không phải bên giường bệnh hay trong phòng mổ nơi các bệnh viện, mà chủ yếu qua những hoạt động sinh viên với tờ báo Tình Thương trong khoảng thời gian 1963-1967. Các bài viết của Thầy Ninh trên báo Sinh Viên Y Khoa Tình Thương đều với một tầm nhìn chiến lược đặt ra những vấn đề lớn của nền Y tế, Giáo dục và Văn hóa Việt Nam, cho đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự:
TT 1: Y tế và Chính Trị
TT 3-4: Những Vấn đề Hiện tại của nền Giáo dục Việt Nam
TT 5: Tinh Thần Đại Học
TT 12: Phỏng vấn Giới Gs Đại học về Vấn đề Sinh viên
TT 14: Nền Đại học Y khoa Việt Nam
TT 20: Các Vấn đề Thanh niên và Sinh viên trong Thời đại

TRẦN NGỌC NINH VÀ NUÔI SẸO
Ngay từ số Tình Thương ra mắt, qua Gs Trần Ngọc Ninh, tòa soạn đã nhận được bản thảo truyện dài Nuôi Sẹo của Triều Sơn và bắt đầu cho đăng từng kỳ trên báo với lời giới thiệu trang trọng: "Nuôi Sẹo là một tác phẩm mà nhiều nhà văn tìm đọc từ hơn 10 năm nay [thời điểm 1964, ghi chú của người viết]. Cuốn truyện đã không thể xuất bản được ở miền Bắc, cộng sản. Nó cũng không thể ra đời được ở miền Nam, dưới chế độ cũ. Tác giả là Triều Sơn, một sinh viên đã rời mái trường để đi làm cách mạng, đã làm đủ nghề, đã đặt chân tới nhiều nơi trên thế giới. Và Triều Sơn đã chết ở Paris khi Nuôi Sẹo sửa được gần xong tập đầu, mà chúng tôi hân hạnh giới thiệu ở đây. Nhưng vài dòng ngắn ngủi này không thể đủ để các bạn, nhất là các bạn trẻ biết rõ Triều Sơn và Nuôi Sẹo. Bởi vậy chúng tôi xin nhường chỗ cho Trần Ngọc [bút hiệu của Gs Trần Ngọc Ninh], một người bạn thiết của Triều Sơn viết "Kỷ niệm về Triều Sơn." Trần Ngọc đã gặp lại Triều Sơn sau 15 năm xa cách và đã làm quen với Nuôi Sẹo ở đó. Triều Sơn đã sống những ngày sau cùng với Trần Ngọc. Cuộc tao ngộ đó là cái nhân cho sự ra mắt của Nuôi Sẹo ở đây. Và chúng tôi xin ghi đậm một nét chân thành cám ơn Trần Ngọc, người đã cho chúng tôi cái hân hạnh đón chào Nuôi Sẹo." [Trích dẫn Tình Thương Số 1, 01/1964]
Bài viết giới thiệu Nuôi Sẹo của Gs Trần Ngọc Ninh, một tài liệu hiếm quý tưởng đã bị thất lạc mà nay tìm lại được. Tuy là viết về Triều Sơn nhưng cũng là tấm gương phản chiếu một chân dung khác thời trai trẻ của Trần Ngọc Ninh nên chúng tôi chủ ý cho trích đăng trong bài viết này.

"Mười Lăm Năm Ấy, Kỷ Niệm về Triều Sơn" của Trần Ngọc
Tôi không biết làm thế nào để nhìn thấy trong một người trẻ tuổi cái mầm của tài năng. Tôi bắt đầu quen Triều Sơn khi vào lớp Toán Chuyên khoa năm 1939. Tôi còn nhớ Triều Sơn nói với tôi, khi hai người vào ngồi cùng một ghế:
_ Có anh em cũ thì học cả Toán cho vui, nhưng tôi học Triết cũng thích.
"Anh em cũ" là hai anh bạn khác, cùng học với Triều Sơn những năm về trước ở trường Bưởi; nhưng ngay từ buổi đầu ấy, tôi cũng đã là "anh em cũ" của Triều Sơn.Năm ấy Triều Sơn 18 tuổi, người to lớn, má đầy, mặt trắng nổi lốm đốm những mụn nhỏ của thiếu niên, tóc thưa và chải lật về đằng sau, mình đóng một cái áo the đen. Cả lớp chỉ có hai chúng tôi mặc ta, nhưng có lẽ đấy là hai điểm độc nhất giống nhau.

Triều Sơn thích đọc Triết hơn Toán, và tôi thích học Toán hơn Triết.
Thực ra Triều Sơn đã tiến sâu vào Triết học từ khá lâu rồi; khi mới học năm thứ ba Trung học phổ thông, anh đã đọc hết Kant, Fichte và Hegel; ảnh hưởng của Triết học Đức sau này còn sâu xa hơn nữa vào anh, qua Marx, qua Husserl, nhưng Triều Sơn không phải là người của một dòng tư tưởng, và anh đã học cả Triết lý cận đại của Âu châu lẫn triết lý cổ Phật-Lão của Á đông. Hơn nữa, Triều Sơn ngay từ lúc ấy đã có một cái công phu suy nghĩ sau này sẽ đưa tư tưởng của anh vượt lên trên những lý thuyết vụn vặt của các môn phái. Tuy vậy mà trong lớp, không có dấu hiệu gì tỏ ra rằng Triều Sơn đã hiểu biết nhiều như thế; số điểm của anh chỉ vào hạng trung bình, kể cả về triết học; có lẽ cái mầm vẫn còn thu hình trong hạt, hoặc giả những ý nghĩ đã có chút đặc sắc của Triều Sơn không hợp với cách học trọng hư văn trong các trường chăng?
Sau khi đậu Trung học, mỗi người chúng tôi theo một ngả đường. Triều Sơn, người không thích Toán, lại vào lớp Toán học đại cương. Nhưng Triều Sơn không học Toán vì Toán; suốt ngày tôi gặp anh ở thư viện đọc về triết lý của toán học; những sách của Whitehead, của Bertrand Russell, của Hamilton được giũ bụi thời gian và ăn sâu vào óc người sinh viên trẻ tuổi. Hồi ấy anh chỉ nói chuyện về "vô cùng", về "số giả" , về cách lý luận trong toán học, về căn bản của sự hiểu biết... Kết quả là cuối năm, sau khi thi hỏng, Triều Sơn bỏ học nhưng hài lòng vì đã lấp được một lỗ hổng trong tư tưởng.
Trong ít lâu, tôi không gặp Triều Sơn nữa. Thời kỳ này mới chính là thời kỳ nảy nở của tài năng. Cái gì đã làm cho cái mầm nảy lá, đục đất và vươn lên trời xanh?Sau này khi Triều Sơn viết Con đường văn nghệ mới, anh sẽ nhấn mạnh về điểm phải gần dân chúng; văn nghệ sĩ nào xa dân chúng sẽ cằn cỗi, hoặc truỵ lạc tinh thần; đi vào quần chúng, sống với đại chúng, hòa nhịp sống của mình vào đời sống chung, phải là phương châm của văn nghệ sĩ tiền phong. Đấy là một lời khuyên sống: quần chúng đã rèn luyện tài năng của Triều Sơn, đã nuôi tinh thần Triều Sơn, đã nung đúc tư tưởng của Triều Sơn. Anh lăn mình vào cách mạng, làm thợ ở mỏ than Hòn Gay, làm hành chính ở Hải Dương, dạy học ở Phú Thọ, làm phu ở dưới tàu, lưu lạc qua Quảng đông để chung đụng với người dân Trung Hoa mới, ở Hồng Kông, Tích Lan, đi Phi châu làm thợ nguội, rồi về Pháp, sống với anh em lính thợ ở Marseille, Bordeaux và Ba Lê.
Và tôi gặp lại Triều Sơn ở Ba Lê.
Thực ra giữa quãng, tôi còn gặp Triều Sơn vài ba lần khác, thời gian vội vàng của một cuộc lên bộ, nhưng cũng không có gì đáng kể. Một bữa thì anh mới ở ngoài Khu vào, và nói chuyện về những thắc mắc tinh thần mà duy vật lịch sử không giải quyết nổi; một bữa khác anh bàn luận về quan niệm của Trang Tử về tự do; một bữa nữa, phê bình văn nghệ, và nói chuyện về sự truỵ lạc của người trí thức bị khoa cử đưa đến một con đường danh lợi dễ dàng xa cách hẳn với đời sống của người dân cần lao. Rồi Triều Sơn vào Sài Gòn làm báo, giũa ngòi bút trong những truyện ngắn, trong những bài thơ tự do (dưới tên là Ninh Huy), hay thơ trào lộng (dưới tên Thang Thang), hoặc tranh luận về Nghệ thuật, về Triết lý hay về những vấn đề xã hội. Trong khoảng này, anh viết bản kịch thơ Triều Sơn đã khéo phù hợp cách dệt những bi kịch Hy Lạp kể sự thức tỉnh của một tâm hồn thấm nhuần Phật học trước sự đau khổ hiện tại của cả dân tộc. Giặc Cờ đen có một cấu tạo rất cổ điển;Triều Sơn đã khéo phù hợp cách dệt những bi kịch Hy Lạp vào xã hội của Việt Nam và dùng lời thơ cổ phong, khi âm u, khi thâm trầm, khi dồn dập, để tả tâm tình của các nhân vật. Tuy thế sau này, Triều Sơn có nói rằng về phương diện thơ thì Giặc Cờ đen chỉ được có vài câu là anh vừa ý; về phương diện kịch thì sự thành công chắc chắn hơn, nếu anh có thì giờ để thực hiện sự ra mắt của vở kịch trên sân khấu.
Nhưng lúc ấy Triều Sơn còn ôm trong người cái mộng lớn về Nuôi Sẹo .
Nuôi Sẹo là gì? Tôi gặp lại Triều Sơn trong một căn phòng nhỏ hẹp, méo mó, chật sách, than và giấy ở phố Bièvre, quận Năm Ba Lê, và cũng làm quen với Nuôi Sẹoở đó.
Nuôi Sẹo là nhân vật chính của một tiểu thuyết dài về xã hội Việt Nam trong buổi cuối cùng của thời thuộc Pháp. Làm mõ làng, chuyên nghề đòi nợ thuê và chôn người. Nuôi Sẹo là một con sâu bọ trong cái xã hội có tôn ti trật tự của một làng Bắc Việt. Triều Sơn đã muốn nhờ con mắt của Nuôi Sẹo để tả cái xã hội phong kiến ấy, rồi lại nhờ con người của Nuôi Sẹo để mở hé một cái quan niệm về cuộc đời.
Đây không phải là một chuyện dễ. Một bức hoạ đồ sộ đòi hỏi công phu và thì giờ rất nhiều: Triều Sơn để vào đó năm, sáu năm của anh, lúc nào cũng cặp chặt tập bản thảo trong người, từ Khu ra Hà Nội, và trong tất cả những chặng đường luân lạc của anh; xúc than nuôi lò cả ngày, buổi chiều tối lại trút bộ áo xanh của người phu tàu ra để chữa một hai câu văn; hoặc là nằm ở Yễm Yễm thư trang, sửa lại vài đoạn chưa được vừa ý. Lúc nào trong đầu óc anh cũng có Nuôi Sẹo ; Nuôi Sẹo chưa ra đời mà làng văn Việt Nam đã biết cả hình dáng của gã, các nhà xuất bản đã tranh nhau đỡ đầu cho gã, đã có nhà văn Pháp hẹn với tác giả để dịch chuyện gã sang tiếng Pháp, đã có hoạ sĩ đi tìm tài liệu để vẽ lại vài cảnh trong cuộc đời gã. Triều Sơn cứ đắn đo, sửa chữa, xóa bỏ, thêm thắt, và để vào đây tất cả sức khoẻ của anh, cho đến ngày không cầm được bút nữa.
Nhưng bức hoạ xã hội không phải là cái khổ tâm chính của Triều Sơn. Cái khổ tâm chính của Triều Sơn là Nuôi Sẹo, là con người Nuôi Sẹo, là tâm lý Nuôi Sẹo...
Thỉnh thoảng tôi đi uống nước với Triều Sơn. Ở khu Saint-Germain-des-Prés, khu văn nghệ của Ba lê, có một quán café, cửa sơn màu đỏ hung, nhỏ nhắn và ấm áp, lúc nào cũng đông khách; khi nào vào đấy thì Triều Sơn ngồi hàng giờ không đứng dậy, với một chén suc-cu-la bốn mươi lăm quan. Tại sao Triều Sơn thích cái quán ấy, tôi không biết. Ở Ba Lê, anh có giao thiệp với các văn sĩ Pháp Vercors, Marcel Aymé, Jean-Paul Sartre; có lẽ vì sự gặp gỡ của anh với những nhà văn ấy thường dùng cái khung cảnh của quán này. Cũng có lẽ rằng Triều Sơn hay tới họp ở hội Triết học cũng ở khu ấy, đã có lần anh tới diễn giảng ở hội và khi ra về quen rẽ vào quán đó. Ngồi đấy với Triều Sơn, tôi đã được anh nói cho nghe về những vấn đề trong Nuôi Sẹo...
Tôi biết Triều Sơn đã xét lại tất cả văn phạm Việt Nam và có những ý nghĩ rất đặc sắc về văn phạm. Anh không lùi khi thấy những điểm cần phải bổ khuyết cho nghề được tinh vi. Khi dùng một chữ không chắc chắn về chính tả, Triều Sơn lại xem lại các tự điển, và tuy đã cẩn thận, nhưng vẫn lo là bỏ sót nhiều chữ viết sai. Thích triết học như anh, mà phải nhịn không giở một cuốn triết lý trong hằng tháng, để khỏi tiêm nhiễm cách viết trừu tượng của các triết gia...
Triều Sơn sửa đi chữa lại Nuôi Sẹo năm sáu lần, vẫn chưa chịu cho in. Tập đầu, lúc mới viết xong dài 900 trang, đúc lại còn 400 trang. Triều Sơn vẫn chưa cho là đủ, "Còn dài quá, 300 trang thôi", anh nói. Các bạn thì sợ rằng rút quá sẽ thành khô. Nhưng Triều Sơn chỉ hứa lần này chữa nữa là "lần cuối cùng", rồi sẽ đưa cho tất cả các bạn xem lại và phê bình, và rồi chữa theo những lời phê bình ấy thôi, trước khi in. Anh nói: "Xong đây, tôi sẽ ghi lại những kinh nghiệm học nghề của tôi thành một quyển Tôi tập viết văn ". Nhưng Nuôi Sẹo cũng chưa xong hẳn, công việc còn dở dang thì bệnh nặng phát ra và anh phải bỏ dở mãi mãi.
Triều Sơn còn để lại một tập truyện dài bằng thơ lục bát, vài truyện ngắn, mấy bài thơ, một cuốn triết học nhập môn viết nửa chừng, và bản thảo của những thư từ bàn luận về triết học và xã hội học với mấy giáo sư ở Collège de France và Sorbonne (Jean Wahl, Gurwich). Nuôi Sẹo đã sửa gần xong tập đầu, tập thứ hai còn là một đống bản thảo hỗn độn. Còn tất cả những hẹn hò khác, anh mang đi, chôn sâu dưới mảnh đất của Ba Lê... [Hết trích dẫn, Tình Thương Số 1, 1-1964] (4)
Và để rồi, chẳng thể ngờ được hơn nửa thế kỷ sau [1963-2018], tôi có dịp gặp lại Thầy Ninh, trao lại Thầy những trang sách của truyện dài Nuôi Sẹo ngày nào, một Nuôi Sẹo Phục Sinh, tuy không toàn vẹn nhưng với rất nhiều công lao của nhà văn Trần Hoài Thư và anh em Thư Quán Bản Thảo. (5)
Và cũng trong dịp này, tôi được biết thêm Triều Sơn có một người con trai còn sống ở Việt Nam. Cô Minh Chân con gái của anh ấy gọi Triều Sơn Bùi Văn Sinh là "Ông Nội", thì hiện sống ở Nam California, cách đây bốn năm có lần tìm tới thăm Thầy Ninh. Qua giới thiệu của Thầy Ninh, tôi được nói chuyện với Minh Chân, được biết thêm tên bố cô là Nguyễn Vân Sơn sinh ngày 7 tháng 10 năm 1951 [bố cô mang họ mẹ, là nữ sĩ Nguyễn Thị Lan Phương, sinh năm 1921, nay cũng đã mất].
Rất mong rồi ra, khi liên lạc được với người con trai của Triều Sơn, sẽ có một ấn bản đặc biệt truyện dài Nuôi Sẹo từ Thư Quán Bản Thảo gửi tới anh, như người thừa kế phần gia tài tinh thần của thân phụ mà có lẽ chính anh cũng chưa được biết mặt và chỉ được nghe Mẹ kể lại những năm về sau này. Triều Sơn Bùi Văn Sinh mất ở Paris năm 1954, do bệnh xơ gan / cirrhosis, lúc đó Triều Sơn chỉ mới 34 tuổi.

VỚI BÁO BÁCH KHOA MỘT CHÂN DUNG VĂN HÓA 
Không chỉ qua báo SV Tình Thương, tôi gần gũi với Gs Trần Ngọc Ninh hơn qua tờ Bách Khoa của anh Lê Ngộ Châu, địa chỉ 160 Phan Đình Phùng Sài Gòn. Đó là một chân dung Trần Ngọc Ninh khác, trong lãnh vực văn hóa.
Được đọc những bài viết của Gs Trần Ngọc Ninh trên báo Bách Khoa, tiếp cận với con người văn hóa rất đa dạng của Thầy Ninh qua những bài viết với nhiều thể loại như: tôn giáo Đức Phật giữa chúng ta, Đức Phật và sự Cải tạo Xã hội, nhân chủng học với Claude Lévi-Strauss, dân tộc học qua những huyền thoại và huyền thoại lí học và cả về ngữ học, như bàn luận về cơ cấu và ngôn ngữ, ông đã rất sớm giới thiệu Noam Chomsky với những phát kiến về Ngữ học Cơ Cấu / Structural Linguistics, với lý thuyết về một Ngữ pháp Hoàn vũ / Universal Grammar và để rồi ông không ngừng theo đuổi và tìm cách ứng dụng để soạn bộ Ngữ Pháp Việt Nam sau này. (7)
Gs Trần Ngọc Ninh không chỉ là một giáo sư Y khoa lỗi lạc, ông còn là một nhà văn hóa kiến thức rộng trải rộng trên nhiều lãnh vực, một mẫu mực đào tạo trí thức theo quan niệm giáo dục cổ điển Âu châu. Là giáo sư Y khoa, ông còn được mời đảm trách giảng dạy môn Văn minh Đại cương và Văn Hóa Việt Nam cho Đại học Vạn Hạnh của Thích Minh Châu, và có bài viết trên Tập san Tư Tưởng.

MỘT TRÍ THỨC THUYỀN NHÂN
Biến cố 1975, một cuộc đổi đời lần thứ hai kể từ sau ngày phân chia đất nước với Hiệp định Geneve 1954.
Sau 1975, vẫn các giáo sư gốc di cư từ miền Bắc vào Nam còn ở lại như Gs Phạm Biểu Tâm, Gs Trần Ngọc Ninh, Gs Hoàng Tiến Bảo, Gs Đào Đức Hoành, Gs Nguyễn Đình Cát... các Thầy nay tuổi đã cao, mỗi ngày phải đi làm bằng xe đạp tới bệnh viện hay xa hơn tới trường Y khoa trên đường Hồng Bàng, Chợ Lớn. Cũng vẫn các Thầy ngoài việc chăm sóc bệnh nhân và giảng dạy cho sinh viên, từ nay còn phải làm thêm việc của y công như lau quét các phòng vệ sinh và cả đổ rác.Không làm sao mà quên được cảnh tượng một Gs Phạm Biểu Tâm phải lau chùi cầu tiêu bị té ngã bầm dập ở bệnh viện Bình Dân, Thầy Tâm rất sợ Cô lo, nên dặn dò không báo tin cho Cô biết.
Như từ bao giờ, trong mọi hoàn cảnh các Thầy vẫn luôn giữ được nhân cách cao trọng của người trí thức, không phát biểu những lời xưng tụng chế độ mới. Các Thầy cũng không thể không não lòng khi hàng ngày phải chứng kiến trình độ dốt nát của nền y tế nhân dân qua những buổi hội chẩn hay giao ban cùng với các ông y sĩ cách mạng phần đông chưa qua hết bậc trung học "chỉ có hồng mà không chuyên" nhưng rất huênh hoang từ ngoài Bắc vào hay từ trong rừng ra.
Điển hình là trong một buổi sáng giao ban tại bệnh viện Bình Dân sau 1975, bác sĩ Lê Quang Dũng một cựu nội trú bệnh viện lâu năm kể lại, là khi anh Dũng báo cáo về một trường hợp mổ áp xe vú, thì bị một bác sĩ quân quản Việt cộng vặn hỏi: "Tại sao anh lại cho mổ áp xe vú?" Bs Dũng đáp: "Tại vì áp xe vú có mủ nên phải mổ dẫn lưu." Dũng đã bị họ mắng: "Anh dốt quá, ở chiến khu tôi nhai lá sống đời xong rồi đắp lên vú thì 5 phút sau áp xe biến mất, không phải mổ gì cả." Các Giáo sư Phạm Biểu Tâm, Trần Ngọc Ninh, Hoàng Tiến Bảo cùng có mặt trong buổi giao ban, chỉ biết ngao ngán lắc đầu. (3)
Phải sống trong nghịch cảnh và chứng kiến những ngày ảm đạm như thế, Gs Trần Ngọc Ninh đã có lần phát biểu với các sinh viên giọng chua chát và khinh mạn: "Hội chẩn với mười con số không cộng lại thì vẫn là zéro."
Giáo sư Vũ Quí Đài, vị khoa trưởng cuối cùng của Y khoa Sài Gòn, còn nhớ là khi ban Quân quản Việt cộng đến tiếp thu trường Y khoa, họ triệu tập một buổi họp gồm sinh viên và cả ban Giảng huấn nơi đại giảng đường gọi là để trấn an nhưng với giọng điệu đầy huênh hoang và cả hăm doạ, Gs Vũ Quí Đài kể: "Lúc ấy Gs Trần Ngọc Ninh ghé tai tôi nói nhỏ một câu lẩy Kiều: Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu". (3)
Hãy nghe giáo sư Trần Ngọc Ninh tâm sự:
"Trên bình diện khoa học, sau khi Bắc Việt đã chiến thắng được miền Nam rồi, cuộc đấu tranh mới bắt đầu giữa Y khoa khoa học của miền Nam và Y khoa nhân dân của miền Bắc. Trong cuộc đấu tranh này, nhân dân là nạn nhân, nhưng cũng là tòa án, tòa án nhân dân. Giải thưởng là tương lai sức khoẻ của Việt Nam. Sức khoẻ cùng nghĩa với sức lao động. Chủ nghĩa không che lấp được sự thật...
Năm 1977, sau khi nghe được lệnh của các vị lãnh đạo y học miền Bắc rằng từ nay không được dạy y lý nào "cao" không thể áp dụng ở Việt Nam như biến hóa của nước và các chất điện giải hoặc pháp dùng thuốc kháng sinh với những kháng sinh sau đời penicillin, hoặc những phẫu thuật quá cầu kỳ khó khăn, tôi mạn phép nói ra ở đầu lớp bệnh lý phẫu khoa của tôi: "Đây là lần cuối cùng và các anh chị em là những sinh viên cuối cùng mà tôi giảng Y khoa khoa học. Từ sang năm tôi sẽ chỉ giảng Y khoa nhân dân. Và anh chị em cố gắng mà theo. Đừng quên rằng mình là những người thừa tự chót của Y khoa khoa học."
Sinh viên Nguyễn Chí Công [trước 1975 là sinh viên cộng sản nằm vùng, bị bắt giam ở Chí Hòa, đã được chính Gs Ninh vào thăm can thiệp và được trả tự do, năm 1976 Công trở lại trường Y phụ trách cai quản sinh viên] , khi nghe được những lời nói ấy, Công đã dự định lập "Tòa án Nhân dân" để hạch tội tôi. Không phải vì thế mà tôi rời Việt Nam".
Gs Ninh nhận định tiếp: "Do nhận thức được toàn bộ chính sách của đảng Cộng sản Việt Nam chỉ là sự mạo danh xã hội chủ nghĩa, đưa nhân dân Việt Nam vào một kiếp đau khổ ngàn đời. Và điều tệ hại hơn nữa là "Đảng và Nhà Nước muốn cưỡng chiếm Y khoa khoa học để dành riêng cho cán bộ, còn Y khoa nhân dân là để cho nhân dân." (6)
Và rồi rất sớm, chỉ 2 năm sau ngày 30 tháng Tư, 1975 vào ngày 6 tháng 6 năm 1977, Gs Trần Ngọc Ninh đã cùng gia đình xuống thuyền vượt biển tìm tự do, giữa lúc ông được chúc mừng là một trong số 4 người được Hội Đồng Chính Phủ giữ lại ở chức vụ Giáo sư với lương bổng cao nhất.
Cuối cùng ông và gia đình tới được đảo Pulau Besar Mã Lai, và ông chọn đi định cư tại Hoa Kỳ để phải bắt đầu lại từ đầu, thay vì đi Pháp là nơi mà ông đã được đào tạo và thành danh.
Sự bỏ đất nước ra đi rất sớm của một khuôn mặt trí thức lớn như ông lúc đó đã gây ra một chấn động nơi giới lãnh đạo Hà Nội và trên toàn trí thức miền Nam thời bấy giờ.

DẬT SỰ BÌNH TRÀ NGUYỄN TUÂN
Tôi tới Mỹ sau Thầy Ninh hơn 6 năm, nhưng rồi cả hai thầy trò sau một thời gian đèn sách trước sau cũng trở lại nghề cũ. Từ New York, tôi về làm việc trong một bệnh viện VA ở vùng nam California, tuy bận rộn nhưng thỉnh thoảng vào mấy ngày cuối tuần tôi vẫn có dịp được gặp Thầy.
Trong một buổi gặp ở nhà anh Võ Phiến, cây tùy bút nổi tiếng của miền Nam từ trước 1975; lúc ấy anh Võ Phiến còn ở trên Los Angeles; anh thú vị đem ra khoe chiếc bình trà của Nguyễn Tuân. Võ Phiến rất quý Nguyễn Tuân. Đặng Tiến đã được Nguyễn Tuân tặng chiếc bình trà sau bao năm quen dùng. Sau đó cũng Đặng Tiến tặng lại Võ Phiến trong một chuyến anh chị sang Pháp năm 1987, cùng năm Nguyễn Tuân mất ở Hà Nội.
Chiếc bình trà nhỏ giản dị bằng sứ tráng men xanh, nơi mặt đáy có in chữ Tonkin như vậy đã khá lâu năm, trông rất tầm thường nhưng là của Nguyễn Tuân. Một Nguyễn Tuân với những trang tùy bút mượt mà của Vang Bóng Một Thời: của Chén trà trong sương sớm với nhân vật cụ Ấm, có phong cách uống trà gần như một thứ trà đạo .
Giữa hai chén trà nước đầu, cụ Ấm nói với người con trưởng:
"Cả ạ, thầy cho nước pha trà không gì thơm lành bằng cái thứ nước đọng trên lá sen. Mỗi lá chỉ có ít thôi. Phải gạn vét ở nhiều lá mới đủ một ấm. Hồi thầy còn ít tuổi, mỗi lúc được quan Đốc truyền cho đi thuyền thúng vớt những giọt thuỷ ngân ấy ở lá sen mặt đầm, thầy cho là kỳ thú nhất trong đời một người học trò được thầy học yêu như con...
Rồi cụ Ấm liền than tiếc đến cái mùa thu đã đi qua mất rồi, để sen hồ rách hết tàn rũ hết lá." [hết trích dẫn, Vang Bóng Một Thời ]
Đó là văn phong Nguyễn Tuân thời tiền chiến, của một thời vang bóng.
Để rồi tới kháng chiến, là một Nguyễn Tuân hóa thân; rất biết sợ bạo quyền để tồn tại, mau chóng xu thời để được vào đảng, rồi leo lên tới chức Tổng thư ký hội Văn nghệ Việt Nam. Chưa dừng ở đó, trong đợt chỉnh huấn cải cách ruộng đất, Nguyễn Tuân còn hăng hái viết bài tự kiểm thảo "Nhìn rõ sai lầm" quyết tâm đoạn tuyệt với quá khứ lãng mạn tiểu tư sản, dứt khoát chối bỏ đứa con tinh thần Vang Bóng Một Thời, đã làm nên tên tuổi Nguyễn Tuân . Sau đó là một Nguyễn Tuân đã biết vận dụng văn tài để hết lời ca ngợi thiên đường xã hội chủ nghĩa.
Nếu với Vang Bóng Một Thời, Nguyễn Tuân được ca ngợi như một bậc thầy của thể văn tuỳ bút trong văn học Việt Nam, thì sau này với những bút ký hết lòng phục vụ Đảng và chủ nghĩa xã hội, Nguyễn Tuân cũng chỉ đáng được xếp là một cây bút tuyên huấn hạng hai. Nguyễn Tuân còn được nhớ và nhắc tới với câu nói: "Tôi còn sống được đến hôm nay là nhờ biết sợ..."
Người bạn tấm cám Nghiêu Đề kể lại, sau 1975 khi Nguyễn Tuân vào Sài Gòn, tới Hội Văn Nghệ Thành Phố, khi thấy Vang Bóng Một Thời được Nxb Cảo Thơm 1962 in tuyệt đẹp với những tranh minh hoạ của Nghiêu Đề, thì đó là một Nguyễn Tuân hả hê về cuộc hội ngộ với đứa con tinh thần mà ông ta đã hơn một lần dứt khoát chối từ.
Bình trà nhỏ mà Gs Trần Ngọc Ninh đang cầm trên tay ngắm nghía kia, không phải của cụ Ấm với Chén trà trong sương sớm, mà là của một Nguyễn Tuân theo kháng chiến, mỗi ngày đã rót ra những chén đắng trong suốt hành trình bi kịch của hơn nửa đời người.
Làm Gì ? một cuốn sách viết về chính trị (1979) mà Gs Trần Ngọc Ninh, không muốn được nhắc tới. Là một giáo y khoa với tiếng tăm quốc tế nhưng khi tới Mỹ như một bác sĩ ngoại quốc, ông vẫn phải khởi nghiệp từ đầu. Giữa thời gian đèn sách, ông vẫn có hùng tâm hoàn tất một tập luận đề chính trị trên 300 trang, với ghi chú nơi cuối sách: "Viết xong lúc giữa trưa ngày 24 tháng 3 năm 1979 tại Trường Sơn của Mỹ Châu" (Rocky Mountains Ranges Denver, Colorado). [tư liệu Ngô Thế Vinh]

MỘT CHÚT RIÊNG TƯ
Năm 2004, khi bản tiếng Anh The Green Belt của cuốn Vòng Đai Xanh do Nxb Ivy House xuất bản, Gs Trần Ngọc Ninh đã viết:
"Ngô Thế Vinh bắt đầu viết văn khi đang còn là một sinh viên. Từ 1963, cùng với các bạn trong đại học Y khoa làm báo Tình Thương như một diễn đàn cho những ý tưởng nhân bản, hướng tới một xã hội lý tưởng và không mang nặng tính “chủ nghĩa”. Ngay khi còn là một nhà báo sinh viên, từ rất sớm, Ngô Thế Vinh đã quan tâm tới vấn đề người Thượng.
Sau khi tốt nghiệp Y khoa, là bác sĩ Mũ Xanh của một đơn vị Biệt Cách Dù chủ yếu hoạt động trong vùng núi rừng Cao nguyên Trung phần. Vòng Đai Xanh là bối cảnh về cuộc chiến tranh Việt Nam trên vùng cao nguyên với cảnh thật, người thật, và “thật hơn nữa” là nỗi thống khổ của các sắc dân Thượng giữa cuộc chiến tranh và ngay sau cuộc chiến. Và chúng ta không thể nào quên là hòa bình bi thảm ra sao đối với phe bại trận tiếp theo sau một cuộc chiến tranh ý thức hệ. Vòng Đai Xanh là một công trình của lương tâm và dấn thân can đảm. Ngay khi xuất bản lần đầu tiên, cuốn sách đã được giới trí thức miền Nam đón nhận rộng rãi và tán thưởng nhưng đồng thời cũng bị chính quyền miền Nam lên án là phá hoại.
Bây giờ đã 30 năm sau cuộc chiến tranh chấm dứt, một ấn bản tiếng Anh rất tuyệt của Nha Trang và Pensinger chắc chắn sẽ lại được đón nhận rộng rãi, bởi vì vấn đề sống còn của các sắc dân Thượng trên Cao nguyên Trung phần được đề cập tới trong Vòng Đai Xanh vẫn còn nguyên tính thời sự của hôm nay.
Đối với người Việt, thì thảm kịch của thời đại chúng ta là mọi cuộc chiến tranh hôm nay và cả trong tương lai đều mang mầm mống hủy hoại mà Vòng Đai Xanh như một điển hình đa diện và ở nhiều mức độ khác nhau. Những sắc dân Thượng ấy đã không có tiếng nói. Đến bao giờ thì “tiếng nói thầm lặng” của họ mới thực sự được lắng nghe?” Trần Ngọc Ninh, Viện Việt Học, tác giả Tuyết Xưa.
Sau này, khi có một tác phẩm mới sắp ra mắt, tôi đều có gửi biếu Thầy Ninh và xin một nhận xét, Thầy đã thẳng thắn từ chối với một câu trả lời: "Vinh bây giờ đã thành danh và không cần thêm lời giới thiệu của tôi nữa." Tôi lãnh hội ý Thầy với tất cả sự khiêm cung và biết ơn.

MỘT ĐỊNH MỆNH SINH HỌC
Khác với thời tuổi trẻ đầy nhiệt huyết, dấn thân vào chính trị và cả đảng phái, nay sắp bước vào tuổi bách niên, tôi ngỏ ý viết về Gs Trần Ngọc Ninh và có cảm tưởng với Thầy Ninh, chính trị nay như một giai đoạn đã vượt qua và Thầy chỉ muốn được nhắc tới như một "chân dung văn hóa".
Nói về văn hóa, Gs Trần Ngọc Ninh đã chọn một trích đoạn trong Tuyết Xưa [tr.100] : "Đối với các cộng đồng người, văn hóa vừa là một dấu hiệu để nhận nhau và phân biệt 'kẻ-kia' vừa là một dụng cụ để giảng giải và hướng dẫn sự sống của đoàn thể trong cái phong cảnh thiên nhiên mà họ đã làm chủ..." (2)
Viết về Gs Trần Ngọc Ninh chắc phải cần tới hơn một cuốn sách. Cũng nhân đây gợi ý với các bạn trẻ trong và ngoài nước, đang chuẩn bị luận án tiến sĩ, thì chân dung văn hóa của Gs Trần Ngọc Ninh là một đề tài rất phong phú và hấp dẫn để các bạn khám phá dấn thân vào.
Như một tâm sự cuối đời, khi trả lời Trần Uyên Thi, một môn sinh rất trẻ sau này ở Viện Việt Học, Gs Trần Ngọc Ninh phát biểu:
"Đến nay tuổi đã lớn rồi [89 tuổi, ở thời điểm 2012], lại càng thấy rằng sự hiểu biết, sự biết, và cả sự thấy của mình chỉ ở bề mặt nông cạn của các hiện tượng (trong đó có lịch sử, khoa học), và đó là cái thân phận sinh học của con người trên mặt đất này." (1)
NGÔ THẾ VINH
Hà Nội 1954 - Sài Gòn 1975
California 07.07.2018
Tham Khảo:
1/ Ước Vọng Duy Tân / A Dream for Vietnam. Tuyển Tập Trần Ngọc Ninh. [chủ biên Trần Uyên Thi]; Viện Việt Học xuấn bản 2012
2/ Tuyết Xưa; Tuyển tập các Vấn đề Văn hóa Việt Nam, Nxb Khởi Hành California Hoa Kỳ 2000
3/ Giáo sư Bác sĩ Phạm Biểu Tâm, Biểu tượng của Y đạo Y học Y thuật. Tập San Y Sĩ Canada 201, tháng 05.2014
4/ Mười lăm năm ấy, Kỷ niệm về Triều Sơn [Trần Ngọc Ninh, với bút hiệu Trần Ngọc], Nguyệt san Tình Thương, số 1, Tháng 1, 1964
5/ Nhà Văn Triều Sơn (1921-1954). Trần Hoài Thư, Thư Quán Bản Thảo, Số 77 Tháng 11.2017
6/ Một Chút Lịch sử Y khoa Đại học đường Sài Gòn. Trần Ngọc Ninh, et al. Hội Y Sĩ Việt Nam tại Canada 2002
7/ Tạp chí Bách Khoa: Thư Viện Người Việt Online https://www.nguoi-viet.com/ThuVienNguoiViet/thuvien-NV.php



Thầy tôi, giáo sư Trần Ngọc Ninh
Saturday, January 19, 2013 9:20:11 PM

LTS: Từ Bàn Viết Houston là cột mục bàn về các vấn đề thời sự từ chính trị tới kinh tế, văn hóa... do nhà báo Việt Nguyên trong ban biên tập Ngày Nay phụ trách. Ông cũng là một bác sĩ làm việc tại Houston. Việt Nguyên (Viết nhân dịp Sinh Nhật thầy Trần Ngọc Ninh)
Giáng sinh năm nay tôi có món quà qúy.  Cặp mắt của tôi theo tuổi già bị mờ vì  cườm trắng đục được giải phẫu thành công.  Những tháng vừa qua, nhìn cuộc đời qua màn sương trắng,  những buổi sáng mặt trời lên chói sáng lại là những giây phút khó chịu, hạnh phúc ngồi trong phòng làm việc viết bài, đọc sách đã bị mất đi khi ánh mặt trời chiếu sáng qua tấm mành.  Ngũ quan của con người như Phật Thích Ca dạy “không toàn hảo” nay thị giác không toàn hảo đã gây nhiều ngộ nhận, mắt người bị cườm nhìn mọi vật dưới ánh sáng mặt trời bị “lòa”, không nhận được người đối diện trước cửa kính với ánh sáng đằng sau như máy chụp hình bị “contre soleil”, dễ bị hiểu lầm như  “ông nay nổi tiếng nên khinh người, không nhận ra bạn bè 
 Màu sắc qua lăng kính trắng đục của thủy tinh thể bị thay đổi, đỏ thành hồng, xanh đậm thành xanh nhạt, tất cả màu nhìn như bị một màu trắng tuyết tạt vào.  Hình ảnh trên máy điện toán và Ipad bị nhoè, phải đoán mò, ban đêm lái xe rõ hơn ban ngày, đôi khi bị những ảo giác, đoàn xe bên đường trông như đoàn xe đang di chuyển trên xa lộ, lái xe không an toàn là lý do chính nên mắt phải cần giải phẫu.
    
Ở vào thời đại y khoa tân tiến thế kỷ 21, so với 37 năm trước ngày tôi tốt nghiệp y khoa, giải phẫu mắt cườm đã tiến một bước vĩ đại, phẫu thuật nhanh chóng không đau với những tiến bộ về gây mê nhưng tâm lý người bệnh không thay đổi.  Từ vai trò thầy thuốc nay thay đổi vị trí thành người bệnh, tôi cũng đi vào những bước thắc mắc, chờ đợi, như những bệnh nhân khác trong khi đặt tất cả niềm tin vào người bác sĩ điều trị.
 
Buổi sáng hôm đến phòng khám mắt của trường đại học Baylor khu trung tâm y khoa Texas, khung cảnh đại học với những người áo trắng đã khiến tôi nhớ về một bệnh viện nhỏ nói tôi được mẹ tôi dẫn đến lần đầu để khám mắt sau khi bị thương tích do tai nạn chơi đùa giữa hai anh em. 
 
Bệnh viện Bình Dân nằm ở góc đường Phan Thanh Giản và Cao Thắng, nơi tôi đã sống một cuộc đời sinh viên y khoa và nội trú với các thầy của tôi, những giáo sư y khoa Thạc sĩ nổi tiếng.  Giáo sư Nguyễn Đình Cát, thạc sĩ mắt, đem trường hợp của tôi, giảng dạy cho các sinh viên y khoa về trường hợp điển hình máu chảy ở phòng trước mắt của một cậu bé 12 tuổi.  Mười năm sau, ông lại nhìn vào mắt của tôi để dạy cho các bạn cùng nhóm, trong đó có Đỗ Hoàng Ý sau này đi theo vết chân của thầy, về một trường hợp mắt cườm nằm phía sau thủy tinh thể điển hình của mắt cườm thương tích.  Ngày nằm trên giường bệnh đợi đến phiên mổ, nhìn lên hai ngọn đèn chiếu sáng trên trần tôi nhớ lại những lời của thầy tôi giáo sư Đào Đức Hoành: “không có bệnh, chỉ có người bệnh” để dạy chúng tôi đối xử nhân bản với bệnh nhân. 
 
Người thầy có tâm Phật  không bao giờ giận học trò đã có những lời khuyên giống như giáo sư Phạm Biểu Tâm, người thầy đã cầm dao dạy thuật giải phẫu cho bao thế hệ sinh viên, đã dặn chúng tôi “các anh phải xem bệnh nhân như là người nhà, phải đối xử với họ như là thân nhân, cha mẹ, anh em của các anh khi họ phải vào nằm trong bệnh viện.”
    
Những vị thầy đã ảnh hưởng đến cuộc đời hành nghề y khoa của tôi phần lớn là các giáo sư đã có công xây dựng bệnh viện Bình Dân, từ ngày di cư vào Nam năm1954, từ bệnh viện Phủ Doãn, Hà Nội, với bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ.  Các giáo sư Nguyễn Hữu, Phạm Biểu Tâm, Ngô Gia Hy, Đào Đức Hoành, Nguyễn Đình Cát, Trần Ngọc Ninh, đã biến bệnh viện Bình Dân thành bệnh viện ngoại khoa nổi tiếng nay đã về với những người muôn năm cũ trừ giáo sư Trần Ngọc Ninh. 
 
 Năm nay vào tháng 11 năm 2012, ông đã thọ 90 tuổi.  Ông là một trong những Đại Giáo Sư (Grand Professeur) của trường đại học y khoa Saigon qua nhiều thế hệ trong đó có tôi.  Tôi đã học rất nhiều từ thầy, nhưng mỗi lần nghĩ về thầy Ninh tôi lại cảm thấy buồn cười, cả đời tôi rượt theo thầy, một người bạn thân của giáo sư Đào Đức Hoành.
    
 Tôi biết ông lần đầu tiên năm tôi học đệ nhị trường Chu Văn An (CVA), ông đến thăm trường với tư cách tổng trưởng văn hóa giáo dục.  Dáng ông cao lớn, giọng nói điềm đạm nhưng có uy khiến người nghe kính nể, ngỗ nghịch như học trò CVA vẫn phải lắng nghe ông mặc dù ông rất khiêm nhượng nói rằng ông là một người học trò CVA cũ về thăm lại các bạn. 
 
Năm ấy ông chủ trương phát triển phong trào thanh niên và đưa hướng đạo vào trường học, nhờ tinh thần của ông mà Lê Khuê Hiệp lúc ấy là Tổng thư ký ban đại diện và tôi đứng ra lập đoàn hướng đạo của trường CVA. 
 
Hơn một năm sau, tôi lại có dịp nhìn thấy ông trong năm Tết Mậu Thân 1968 tại bệnh viện Nhi Đồng.  Tôi và đoàn hướng đạo vào bệnh viện Nhi Đồng làm việc tình nguyện băng bó các vết thương, săn sóc cho các trẻ khi bệnh viện thiếu điều dưỡng, đi theo các bà sơ và các anh sinh viên y khoa năm thứ tư, Nguyễn Chấn Hùng và Nguyễn Lương Tuyền trong khu giải phẫu tiểu nhi khi ấy tôi mới biết ông là đại giáo sư giải phẫu tiểu nhi, nhìn thái độ cung kính của bác sĩ Trần Xuân Ninh và các bác sĩ điều trị đối với ông, tôi biết ông là một người thầy đáng kính. 
 
Năm ấy là một năm đánh dấu khúc quanh của đời học sinh ngỗ nghịch của tôi.  Ấn tượng về ông và những người mang áo choàng trắng cũng như những ngày đến nhà người bạn hướng đạo đã vào y khoa trước tôi một năm, Trần Thế Kiệt với cuốn Atlas Gray’s Anatomy, đã khiến tôi quyết định chọn ngành y khoa và sau này, ngành giải phẫu. 
 
Có thể nói, nhờ giáo sư Trần Ngọc Ninh mà tôi đã đậu vào y khoa, ông đã đặt nặng phần kiến thức tổng quát hơn các môn khác như vạn vật, những câu hỏi như:  Tựa cuốn tiểu thuyết “Cuốn theo chiều gió” của bà Margaret Mitchell tên tiếng Pháp là gì? đối với một học sinh hay trốn học, xem  xi nê, đọc tiểu thuyết như tôi là một câu đố vui dễ dàng!
   
 Đậu vào y khoa rồi tôi mới hiểu, người thầy y khoa, đã tốt nghiệp ở Hà Nội rồi sang Pháp du học với giáo sư Merle d’Aubigné ở bệnh viện Cochin về ngành giải phẫu chỉnh trực và với giáo sư Pierre Petit về ngành giải phẫu tiểu nhi ở bệnh viện St Vincent De Paul và qua Anh tu nghiệp giải phẫu tiểu nhi với giáo sư Seddon, đã dạy chúng tôi “muốn trở thành người y sĩ giỏi các anh phải biết nhiều về mọi phương diện không chỉ y khoa”. 
 
Người y sĩ hoàn toàn ấy, thầy của chúng tôi thạc sĩ  y khoa Pháp, cũng là một người thầy trong văn học.  Thập niên 1960 ông dạy văn hóa và văn minh đại cương tại đại học Vạn Hạnh trong khi ông đang giữ chức tổng trưởng văn hóa giáo dục.  Cuốn sách tôi thích đọc là cuốn “Đức Phật giữa chúng ta” (năm 1972) cho thấy kiến thức của ông về Phật Giáo trong khi ông cũng thông thạo triết của Lévi-Strauss.  Ông là người có kiến thức rộng với vầng trán cao trí thức, giáng điệu cương nghị, ông luôn khiến tôi nhớ đến câu của triết gia Francis Bacon “Kiến thức là sức mạnh” (Knowledge is Power).
    
Đọc lại cuộc đời qua cuốn tự thuật của ông, ông là một mẫu sinh viên điển hình yêu nước trong thời Pháp thuộc.  Theo Tây học, học y khoa chương trình Pháp, đi du học ở Pháp nhưng thế hệ của ông là thế hệ của những sinh viên yêu nước tranh đấu dành độc lập theo gương của các cụ Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu.  Trong lúc làm nội trú nhà thương Phủ Doãn, ông đã cùng với bạn cùng lớp bác sĩ Khả và bác sĩ Hoành rải truyền đơn chống Pháp, khác với giáo sư Hoành về sau không hoạt động chính trị, giáo sư Trần Ngọc Ninh tham gia đảng phái và hoạt động chính trị trong cả cuộc đời.
    
Vào y khoa rồi, tôi cũng như các sinh viên y khoa khác, muốn gặp ông vẫn thật là khó, vẫn phải “kính nhi viễn chi”, nhìn thầy từ xa… Năm  thứ hai bắt đầu đi thực tập lâm sàng, chúng tôi cũng chỉ học qua các anh nội trú khu giải phẫu chỉnh trực ở bệnh viện Bình Dân cho mãi đến năm thứ tư các sinh viên y khoa mới được đi thực tập ở khu giải phẩu tiểu nhi  bệnh viện Nhi Đồng và chỉnh trực ở bệnh viện Bình Dân đồng thời được nghe thầy giảng bài ở đại giảng đường trường y khoa.
    
Ở giảng đường thầy lúc nào cũng chững chạc từ giáng điệu đến y phục.  Ông giảng bài với kiến thức rộng lớn của ông hợp với những người có ý tự học và muốn tìm hiểu rộng hơn ngoài sách vở, khi giảng bài ông hay ngửng mặt nhìn lên, người ngoài nhìn nghĩ là ông khinh các cậu sinh viên nhưng có lẽ đó là đặc điểm của một người hay suy nghĩ.  Ông giảng với trình độ cao khác hẳn với trình độ của một giáo sư trung học.  Sinh viên trong giờ học của ông thường yên lặng.  Nhờ ông mà sinh viên thích tìm tòi học hỏi đọc sách và hiểu biết ngoài môn học căn bản, từ giải phẫu tiểu nhi đến chỉnh trực, ông đi qua lãnh vực nhân chủng học nhờ vậy chúng tôi có những hiểu biết căn bản về tiến hóa của loài người từ Homo Erectus đến Homo Sapiens để sau này đọc thêm sách tiến hóa của Darwin. 
    
Tôi có lúc mê thầy, sau giờ học đôi khi đi xe Honda chở bạn chạy trên những con đường cây dài bóng mát yên tĩnh Tú Xương, Yên Đổ, bắt gặp chiếc xe Pegeot 404 màu trắng của thầy đi trên đường Phan Đình Phùng, là chạy theo sau xe ông đến tòa soạn Bách Khoa.
 
 Thời ấy tôi mê đọc sách, mê tạp chí Sáng Tạo  và Bách Khoa và mê những bài khảo cứu khô khan của ông trong Bách Khoa như “Tinh thần đại học”, “tư tưởng chính trị Việt Nam”, “Hành trang và hành trình vào văn hóa”.  Cái thời sinh viên của tôi chỉ mê thầy, mê sách mà không mê ca sĩ!
    
Ở bệnh viện, sinh viên sợ cái uy của ông nhưng ông cũng có cái điểm yếu là nếu thương sinh viên nào thì ông ít “quay” còn sinh viên nào kém là bị ông mắng cho nên sinh viên “sợ” trình “ca” bệnh cho ông thầy khi ông đi qua giường bệnh. 
 
Tôi còn nhớ một kỷ niệm ở bệnh viện Nhi Đồng, một anh bạn trên tôi một lớp trình “ca” cho thầy, khi nghe xong ông trầm ngâm nhìn bạn tôi hỏi một câu: “anh bao nhiêu tuổi?” anh bạn xanh mặt, ấp úng trả lời: “thưa thầy năm nay con 22 tuổi”.  Ông thầy phán một câu:  “tôi nghĩ anh còn thì giờ để đổi nghề!”
     
Ông thường hay nói với học trò: “các anh là sinh viên của tôi chứ không phải là học trò của tôi, học trò của tôi phải là nội trú, phụ tá cho tôi như ngày xưa Tử Cống Tử Lộ hầu Khổng Tử”.
 
 Học trò của ông như vậy không nhiều, nổi tiếng có bác sĩ Vũ Văn Nguyên sau qua học Mayo Clinic ở Minesota, có bác sĩ Trần Xuân Ninh qua bệnh viện Nhi Đồng ở Chicago, có bác sĩ Nguyễn Lương Tuyền giáo sư tiểu nhi đại học McGill, Montreal Gia Nã Đại và còn lại ở Việt Nam là bác sĩ Võ Thành Phụng và Nguyễn văn Quang.  Quan niệm thầy trò của ông quả là khó hơn của thẩy tôi giáo sư Đào Đức Hoành và khó hơn cả Khổng Tử: “nhất tự vi sư bán tự vi sư” chỉ dạy nửa chữ cũng là thầy hay “tam nhân đồng hành…” một trong ba người cùng đi có người là thầy ta. 
 
Năm thứ tư, tôi cũng bắt chước Tử Cống, Tử Lộ, đến phòng ngoại chẩn khu chỉnh trực ở bệnh viện Bình Dân, lúc một giờ, giờ mọi người ngủ trưa, đến với Tuấn “gà mái” trên tôi một lớp để xem ông khám bệnh và giảng dạy có khi cho bác sĩ Võ Thành Phụng có khi cho bác sĩ Nguyễn văn Quang hai giảng nghiệm viên của ông.  Tôi đứng khoanh tay chầu riết rồi ông thầy cũng nhận được mặt quen vì tôi cũng thích đọc sách y khoa Mỹ có thể trả lời những câu anh Phụng, anh Quang không trả lời được như: mạch máu nhỏ nuôi máu lớn là gì, mạch máu nhỏ nuôi thần kinh tên gì?
    
Năm thứ năm y khoa, sau khi đậu kỳ thi tuyển vào nội trú các bệnh viện, tôi về khu ung thư bệnh viện Bình Dân với giáo sư Đào Đức Hoành.  Bệnh viện nằm gần nhà, quen thuộc với tôi từ năm thứ nhất, cứ mỗi hai ba đêm sau khi ở trường về nhà, ăn tối, đến nhà bạn, đi café rồi ghé vào bệnh viện đi theo anh nội trú Nguyễn Chấn Hùng trên tôi năm lớp, trực suốt đêm, sáng lại vào lớp.  Thời kỳ học nghề mổ xẻ, đi từ những thủ thuật nhỏ, may vá vết thương, săn sóc vết thương chiến tranh cho đến phụ mổ các trường hợp cấp cứu, mổ ruột dư v.v… với các anh nội trú và các giảng viên như các anh Hồ Tấn Phước, Nghiêm Đạo Đại, Nguyển Đình Tuyến…
 
Bệnh viên Bình Dân có không khí gia đình với tình anh em chia xẻ cùng một đam mê y học và lý tưởng.  Bệnh viện nhỏ tôi quen từng góc cạnh.  Từ ngoài cửa đi đến phòng trực, qua khu giải phẫu tổng quát với văn phòng giáo sư Phạm Biểu Tâm bên phải, bên ngoài là khu mắt của giáo sư Cát, đi thẳng qua phòng mổ cấp cứu đến phòng hậu giải phẫu, bên trái là khu quang tuyến, phòng thí nghiệm, nhà thuốc, đến khu tiết niệu, khu da liễu, khu hàm mặt, phía sau là khu tai mũi họng, khu ung thư nằm ở dãy nhà mới, đi lên lầu là phòng mổ, lên lầu ba là phòng các nội trú.  Các phòng của các đàn anh Hùng, Phụng, Tuyền, Ân, Quang, tôi đã quen thuộc trước khi vào nội trú.  Trong bốn năm sinh viên đi theo các anh để tự học thêm, cho đến ngày đậu nội trú tự nhiên bỗng trở thành “ông thầy” quan trọng mỗi lần y tá, y công từ phòng săn sóc hậu giải phẫu hay phòng cấp cứu lên đập cửa mời đi xem bệnh. 
 
Thời kỳ nội trú không biết ngày đêm, nhờ sự đam mê mà quên hết những cực khổ nhọc nhằn của nghành y.  Phòng mổ là nơi thi thố tài năng, là trung tâm điểm của các y sĩ giải phẫu cho nên ngày xưa ở Anh phòng mổ được gọi là phòng diễn xuất (theater room).  Ở phòng mổ, giáo sư Trần Ngọc Ninh được tiếng là mổ đẹp và cẩn thận, ông không làm mất máu, nơi vết mổ của ông bao giờ cũng sạch sẽ.  Cách mổ chứng tỏ được cá tính của con người. 
 
Giáo sư Phạm Biểu Tâm mổ ngay ngắn, cẩn thận, không dư nét giống như cách nói với học trò của ông, kỷ luật, thẳng thắn.
 
Giáo sư Ngô Gia Hy mổ nghiêm túc, cần người phụ mổ hợp với thầy như bác sĩ Đặng Phú Ân. 
 
Giáo sư Đào Đức Hoành mổ ung thư, vết mổ bao giờ cũng rộng, cắt nhiều, mỗi lần thầy mổ chúng tôi phải chuẩn bị toán phụ chờ đợi khi cần phải chạy lên phòng mổ.
 
 Tôi chưa thấy thầy Nguyễn Hữu mổ, ông đi Pháp trước khi chúng tôi lên năm thứ nhất, nhưng mẹ vợ tôi “chị Vân lớn” là người phụ mổ chính cho thầy nói rằng thầy mổ đẹp, nhanh, cẩn thận, sau này học trò của thầy là bác sĩ Nghiêm Đạo Đại cũng mổ đẹp như thầy Nguyễn Hữu (bác sĩ Đại sau làm giáo sư giải phẫu ghép cơ quan ở Đại Học Pittsburg Hoa Kỳ có phẩu thuật ghép tụy tạng nổi tiếng).  Bác sĩ giải phẫu cần phải có người phụ mổ giỏi nên các thầy cần các nội trú giỏi.  Hai người hợp nhau như đi cùng một vũ điệu trong im lặng, bình tĩnh, người phụ mổ phải thuộc từng “bước”, trước khi mổ đọc lại sách cơ thể học, đọc lại phương pháp giải phẫu, tác động nhịp nhàng không cần phải nhắc, bàn tay mặt dơ ra là đã có kềm, kéo, kim may sẵn, “cắt, buộc, hút máu, chấm máu, banh vết mổ” các động tác làm kịp thời trong yên lặng dưới ánh đèn của phòng mổ.
    
Sau ngày “mưa sa trên nền cờ đỏ” 30 tháng 4, 1975, tôi gần các thầy hơn.  Các bác sĩ giảng nghiệm viên bị đi học tập cải tạo, ở bệnh viện còn lại trên là các thầy dưới là các nội trú. 
 
Cảnh đời thay đổi, xã hội chủ nghĩa làm cách mạng muốn đưa con người về trước thời kỳ con người biết đứng thẳng (Homo Erectus), trong hoàn cảnh ấy tôi vẫn khâm phục thầy Phạm Biểu Tâm và Trần Ngọc Ninh, hai ông vẫn giữ tư cách của người trí thức.  Ở bệnh viện, lao công làm chủ, vợ chồng anh Được quản lý còn các bác sĩ đi lau nhà.  Giáo sư Phạm Biểu Tâm bưng xô nước lau nhà té bầm cả cánh tay mặt.  Ông tâm sự:  “trong đời tôi có hai lần đổi đời, năm 54 và năm 75, hồi 54 tôi còn trẻ còn năm 75 tôi đã già rồi!”
 
Giáo sư Ninh vẫn giữ nét mặt kiêu ngạo, ngày 1 tháng 5 vào trường bàn giao cho ban quân quản mới, ông ngẩng mặt nhìn biểu ngữ “không  gì quí hơn độc lập tự do”, tránh đi qua bên đường vào văn phòng hành chính thay vì phải đi qua biểu ngữ.  Các ông thầy mỗi ngày đi xe đạp đến bệnh viện, phải ngồi nghe y sĩ Năm Lực từ trong rừng dạy cách mổ cho đến ngày giáo sư Tôn Thất Tùng vào Nam thăm bệnh viện.
    
 
Tháng 8 năm 1977, giáo sư Trần Ngọc Ninh vượt biên, chuyến đi như cuộc du ngoạn có chuẩn bị, vài ngày đến đảo Pulau Besar Mã Lai. 
 
Tháng 10 cùng năm, tôi “rượt” theo ông, đến đảo Pulau Besar sau 42 ngày lênh đênh, đến đảo thì ông đã đi Mỹ.  Cái lều tôi ở tạm là lều cũ của thầy.  Qua Mỹ, tháng 2 năm 1979, tôi nhận được thơ ông viết giới thiệu để đi thực tập các bệnh viện khi ông đang làm ở bệnh viện Đại học Pittsburg.  Các sinh viên nói với nhau, thầy thay đổi khi qua Mỹ không còn khó tính như xưa nhưng với kinh nghiệm riêng của tôi, thầy có bộ mặt nghiêm khắc nhưng thương học trò. 
 
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 có lần trong buổi giao ban buổi sáng ở bệnh viện Bình Dân, bác sĩ Văn Tần và Năm Lực đưa “ca” tôi mổ đêm hôm trước khi tôi là xếp “ tua gác”. “Ca” áp xe ruột dư, tôi mổ không biến chứng nhưng vết mổ Mc Burney thay vì vết mổ ngay giữa bụng.  Tôi không có mặt trong buổi giao ban (gác đêm xong sáng sớm tôi liền đi uống café, bất cần đời!) giáo sư Ninh nói: “phải là người cầm dao mới quyết định cách mổ, chúng ta không thể chỉ trích nếu chúng ta không có mặt lúc ấy”.
    
Ông là ân nhân của các bác sĩ tốt nghiệp từ sau 1976, nhờ ông can thiệp với hội    
AMA mà họ được công nhận để được thi lấy bằng tương đương hành nghề ở Hoa Kỳ. 
   
 Một lần khác vào năm 1974, ngày hội thảo giáo dục y khoa do phái bộ AMA tổ chức cùng với ban đại diện sinh viên với Trần Thế Kiệt làm chủ tịch, các sinh viên trẻ chỉ trích tinh thần thiếu dân chủ của giáo sư Ninh và thầy không dạy đúng kiểu Mỹ.  Trần Thế Kiệt: “các thầy phải nhận phê phán, trong lịch sử nhân loại, có hai người là đã có phê bình”.  Giáo sư Ninh đã đỏ mặt lớn tiếng nhưng sau đó ở hành lang trường trước mặt tôi và các sinh viên năm thứ tư chỉ trích thầy, ông đã ôn tồn đứng thảo luận một cách rất dân chủ. 
 
Hè năm 1995 tôi có dịp về thăm bệnh viện Bình Dân.  Buổi tối về nhà bác sĩ Nguyễn Chấn Hùng, anh nói với tôi “em vào Bình Dân mà các nhân viên gọi điện thoại qua các nhà thương khác nói giáo sư Trần Ngọc Ninh về thăm!”  Tôi cũng không hiểu tại sao có sự lầm lẩn buồn cười giữa tôi và thầy!
    
Mùa hè năm 2008, tôi có dịp đến thăm thầy và tặng ông tập sách “Từ bàn viết Houston” của tôi.  Hai thầy trò nói chuyện với nhau hơn hai giờ mà thầy vẫn lưu luyến giữ lại. 
 
Ông tặng lại tôi hai cuốn sách của ông,  cuốn “Cơ cấu Việt Ngữ” đồ sộ,  công phu nhưng “chỉ bán được có ba cuốn” và tập “Tuyết Xưa” một quyển sách giá trị về văn hóa tựa đề đến từ câu thơ của Francois Villon “Mais òu sont les neiges d’antan?”(Tuyết năm xưa bây giờ ở nơi nào?).
 
 Câu thơ được nhắc đi nhắc lại dưới bốn đoạn thơ.  Giòng thời gian qua mau, tôi nhìn mái tóc thầy đã trắng như tuyết, đến thăm thầy có nhà báo Đỗ Qúi Toàn và vợ tôi, Quỳnh Giao, cho nên tôi không có dịp tranh cãi với thầy: “qua bao mùa tuyết xưa, bây giờ thầy có xem con là học trò hay chỉ là sinh viên của thầy?”

xem them
http://www.viethoc.com/Ban-Ging-Hun/tran-ngoc-ninh


Ngô Thế Vinh

PROFESSOR TRẦN NGỌC NINH

1923 - 2025 AND

HIS DREAM OF MODERNITY

Professor Trần Ngọc Ninh peacefully passed away at the age 103 on July 16, 2025 at Hoag Hospital, in Newport Beach, Southern California. News of his passing was only shared by his family two weeks later, in accordance with his wish for an extremely simple Buddlish funeral held privately within the family. There was no obituary, no eulogy and the family faithfully fullfilled his wishes. He was laid to rest at Loma Vista Memorial Park in Fullerton, approximately 20 km from Little Saigon, beside the grave of his late wife, who passed away in the year 2020 during the Covid-19 pandemic. His gravestone is remarkably simple, bearing no titles or honors – only his name and his Dharma name “Orgyen Karma, symbolizing enlightened activity”.

*

I dream of a Việt Nam at peace, and moving forward on the basis of the spiritual values that our history has thrust into the cultural heritage of our land. I have spent my whole life trying to contribute to this dream. Trần Ngọc Ninh, A Dream of Modernity, 2012

Image 1: left side: I visited Professor Trần Ngọc Ninh in Huntington Beach on June 21 & 29 of 2018, At the age of 95 his mind was still alert and sharp. On the table are issues of the journal Medicine & Compassion (Tình Thương; 1963-1967) with many articles by the Professor; right side: Professor Trần Ngọc Ninh inscribing a book he is presenting to Ngô Thế Vinh, What is to Be Done (Làm Gì; 1979). Next to him is the work Raising Scars (Nuôi Sẹo) from Thư’s Manuscript Library given to Prof.Trần Ngọc Ninh by Trần Hoài Thư. [personal archives of Ngô Thế Vinh]   

BIOGRAPHY

Trần Ngọc Ninh (his real name) also used the pen names Kỳ Ngọc, Trần Ngọc and Trần Lê. He was born on November 6, 1923 in Hanoi, and his place of origin was Ninh Bình in North Vietnam. His father was a poor schoolteacher, and at times there was not enough to eat in his house. While going to school he also wrote articles for popular medical magazines such as The Joy of Life (Vui Sống) under the pen name Kỳ Ngọc in order to earn a living. A number of his articles are collected in The Snows of Yesteryear (Tuyết Xưa). (2)

  • 1939: He was a student in the Bưởi High School, first studying science in the Mathematics Department with Triều Sơn, and then shifting to Medicine.
  • 1946-1948: He was a resident in Hanoi Hospital.
  • 1948: He completed his medical MD dissertation: "Contribution à la Physiopathologie des Traumatismes Thoraciques" (A Contribution to the Physiopathology of Thoracic Trauma)
  • 1948-1952: Doctor in Yersin (Phủ Doãn) Hospital, Hanoi.
  • 1952-1954: Studied spinal surgery abroad in France with Professor Robert Merle d'Aubigné in Cochin hospital and pediatric surgery with Professor Pierre Petit at the St Vincent de Paul hospital, then went to England where he completed a program in neurological and spinal surgery with Professor Herbert Seddon.
  • 1954: emigrated to the South after the Geneva Accords division of the country, together with Professors Phạm Biểu Tâm, Nguyễn Hữu, Đào Đức Hoành, Ngô Gia Hy, Nguyễn Đình Cát... and became part of the faculty of the Saigon Medical School after the departure of the French.
  • 1961: Obtained a France “agrégé” degree from Facultés Françaises de Médecine, Section Chirurgie Orthopédique.
  • 1961-1967: Professor of Orthopecic Surgery and Pediatric Surgery at the Saigon Medical School in Vietnam.
  • 1966-1967: Minister of Culture and Social Affairs in charge od Education in the Republic of Vietnam; advocated developing the youth movement; introduced scouting into school activities; introduced scouting into school activities.
  • 1956-1977: Chief Department od Orthopedic Surgery, Bình Dân Hospital, Saigon.
  • 1966-1975: Professor at Vạn Hạnh University, taught “General Overview of Civilization and Vietnanmese Culture.”
  • 1967: founding member of the Southeast Asian Ministers Education Organization (SEAMEO) in Bangkok and Singapore
  • 1968-1975: member of the Committee for the Creation of Technical Terms in Saigon.
  • 1969-1975: member of the Committee on Cultural Education in Saigon
  • 1977, June 6: escaped by sea from Vietnam; arrived at the Malaysian island of Pulau Besar, where he chose to emigrate to the U.S.
  • 1978-1980: took the ECFMG and FLEX examinations as a foreign doctor, but for a period still had to undergo practical training at hospitals in Denver, Colorado; and then in Pittsburg Professors James S. Miles and William B. Kiesewetter and was also a professor of Pediatric Surgery with the former figure.

    In after-hours, he also completed a book of essays on political subjects entitled What Are We to Do? (Làm Gì) with more than 300 pages, with this notation ear the end: “Finished around noon on March 24, 1979 in the American Trường Sơn Mountain range of the American continent [the Rockies in Denver, Colorado / author’s note)
  • 1980: returned to the practice of medicine in Southern California, but he was mainly preoccupied with cultural and educational activities. He wrote articles for the periodicals Doctor’s Journal (Tập San Y Sĩ), the 21st Century (Thế Kỷ 21), and Starting Forth (Khởi Hành).
  • 2000: served on the Board of Advisors to the Vietnamese Studies Institute (Ban Cố vấn Viện Việt Học; Westminster, California) founded by Professor Nguyễn Đình Hoà.
  • 2003-2008: Rector of the Vietnamese Studies Institute where, as a professor, he taught a course in Vietnamese grammar.
  • 2018: still clear-minded at the age of 95, he now resides in the city of Huntington Beach in south California.
  • 2025: Professor Trần Ngọc Ninh passed away on July 15, 2925 at the nenerable age of 103.

WORKS

On Cultural Subjects

  • Issues in Culture, Education, and Society (Những Vấn đề Văn hoá Giáo dục và Xã hội) [a collection of speeches by Professor Trần Ngọc Ninh, Minister of Culture and Social Affairs in charge od Education in the Republic of Vietnam. Saigon, Vietnam, 1966
  • National Culture with Regard to The Needs of the Country (Văn hoá Dân tộc trước những Nhu cầu của Đất nước); Vovinam Publishers, Saigon Vietnam, 1969
  • The Buddha Among Us. (Đức Phật Giữa Chúng Ta), Lá Bối Publishers, Saigon Vietnam, 1972
  • What is to Be done? (Làm Gì?), A Collection of Studies.i September (Tập Luận đề Tháng Chín). Eith the pen name Trần Lê. Việt Nam Hải Ngoại publishing House, California 1979
  • The Snows of Yesteryear (Tuyết Xưa); A collection of essays on Vietnamese cultural Issues, Khởi Hành Publishers. California: 2000
  • Tố Như and his “New Lament of a Grief-stricken Heart (Tố Như và Đoạn Trường Tân Thanh) with new hypotheses with regard to Nguyễn Du and Đoạn Trường Tân Thanh, as well as the relationship between Nguyễn Du and Hồ Xuân Hương. Published by Khởi Hành & Viện Việt Học, California, 2004
  • Vietnamese Syntax (Cơ Cấu Việt Ngữ), Lửa Thiêng Publishers, Saigon, 1973; republished by Viện Việt Học, California, 2009
  • Vietnamese Reading and Writing Primer (Dạy Đọc Dạy Viết Tiếng Việt), published by Viện Việt Học, California, 2010
  • A Dream of Modernity: Culture, Mythology, and Literary History (Ước Vọng Duy Tân. Văn Hoá, Huyền Thoại, Văn Học Sử) Collected works of Trần Ngọc Ninh. Viện Việt Học Publishers, California, 2012
  • Vietnamese Grammar (Ngữ Pháp Việt Nam), [Viện Việt Học, California, 2017]
  • First Vietnamese Lexicon / Ngữ Pháp Tiếng Việt Đầu Tiên
  • Introduction to Vietnamese Grammar for Ages Five to Fifteen [Viện Việt Học, California, 2017]

Image 2: The covers of a number of Prof. Trần Ngọc Ninh’s books. [personal archives, Ngô Thế Vinh]

On Medicine

  • On Hospitals (Nhà Thương), Interviews, Văn Hoá Publishers, Hanoi, 1946
  • The Memoirs of Thượng Kinh (Thượng Kinh Ký Sự) Éthique Médicale de la Médecine Traditionnelle du Vietnam, d' après les Mémoires d'un Voyage à la Capitale de Hải Thượng Lãn Ông (18e siècle), Isis, Bruxelles, Belgique, 1950
  • Urgent Care Illnesses (Những Bệnh Cần Cấp Cứu), pub. by Gió Việt, Saigon, 1956
  • Notes on the History of Medical School in Saigon (Một Chút Lịch sử Y khoa Đại học đường Sài Gòn), pub. by Tập San Y Sĩ, Montréal, Canada, 2000
  • The History of Two Medical Specialties in Vietnam: Orthopedic Surgery and Pediatric Surgery (Lịch sử hình thành hai Chuyên khoa Y Học: Phẫu khoa Chỉnh trực và Phẫu Nhi khoa ở Việt Nam), pub. by Tập San Y Sĩ, Montréal, Canada, 2000
  • More than 200 specialized research articles published in medical journals in Vietnam, France, and the U.S.

BIBLIOGRAPHY OF JOURNAL ARTICLES

In addition to his published books and specialized research papers featured in Vietnamese and international medical journals, Professor Trần Ngọc Ninh also authored numerous articles on cultural topics. Below is a bibliographic compilation of his contributions to three digitized journals: Tình Thương, Bách Khoa, and Thế Kỷ 21, collected by librarian Phạm Lệ Hương of the Vietnamese Institute of Culture and Literature (Viện Việt Học).

_ TÌNH THƯƠNG

https://vietecologypress.blogspot.com/p/tinh-thuong.html

  • Medicine and Politics / Trần Ngọc Ninh. Tình Thương, No. 1 (Jan 1964), pp. 9–10.
  • Fifteen Years Ago, Memories of Triều Sơn / Trần Ngọc [pseud. Trần Ngọc Ninh]. Tình Thương, No. 1 (Jan 1964), pp. 46–50.
  • Current Issues in Vietnamese Education / Trần Ngọc Ninh. Tình Thương, Nos. 3–4 (Mar–Apr 1964), pp. 9–11.
  • The Spirit of the University; or an Essay on the Concept of the University / Trần Ngọc Ninh. Tình Thương, No. 5 (May 1964), pp. 6–12.
  • Interview with University Professors on Student Issues — Ngô Thế Vinh & Nguyễn Hữu Ân: Interview with Prof. Trần Ngọc Ninh. Tình Thương, No. 12 (Dec 1964), pp. 6–7.
  • The Future of Vietnamese Medical Education / Trần Ngọc Ninh. Tình Thương, No. 14 (Spring Ất Tỵ, Jan 1965), pp. IV–VI.
  • Issues of Youth and Students in Our Time / Trần Ngọc Ninh. Tình Thương, No. 20 (Aug 1965), pp. 17–20.

_ BÁCH KHOA

https://www.nguoi-viet.com/ThuVienNguoiViet/BachKhoa.php?thuvien=1-30

  • Ancient Vietnamese Society and Culture (Part 1) / Trần Ngọc Ninh.
    Bach Khoa, Issue No. 343, pp. 5–14.
  • Ancient Vietnamese Society and Culture (Part 2) / Trần Ngọc Ninh.
    Bach Khoa, Issue No. 344, pp. 29–37.
  • The Buddha and Social Reform (Part 1) / Trần Ngọc Ninh.
    Bach Khoa, Issue No. 345, pp. 9–16.
  • The Buddha and Social Reform (Part 2) / Trần Ngọc Ninh.
    Bach Khoa, Issue No. 346, pp. 31–39.
  • The Buddha and Social Reform (Part 3) / Trần Ngọc Ninh.
    Bach Khoa, Issue No. 347, pp. 33–41.
  • Our Future / Trần Ngọc Ninh.
    Bach Khoa, Issue No. 348, pp. 9–12; 71–77.
  • Writing on Ancient Vietnamese Society and Culture / Trần Ngọc Ninh.
    Bach Khoa, Issue No. 349, pp. 39–45.
  • The End of the Second Indochina War / Trần Ngọc Ninh.
    Bach Khoa, Issue No. 351, pp. 9–11.
  • The Light of Buddhism in Community Life (Part 1) / Trần Ngọc Ninh.
    Bach Khoa, Issue No. 351, pp. 23–30.
  • The Light of Buddhism in Community Life (Part 2) / Trần Ngọc Ninh.
    Bach Khoa, Issue No. 352, pp. 23–27.
  • The Light of Buddhism in Community Life (Part 3) / Trần Ngọc Ninh.
    Bach Khoa, Issue No. 353, pp. 31–40.
  • Education as an Investment Requiring Management and Planning: The Economic Foundations of Education
    (Part 1 – Writing for the Nation’s Future) / Trần Ngọc Ninh.
    Bach Khoa, Issue No. 368, pp. 31–38.
  • Education as an Investment Requiring Management and Planning: The Economic Foundations of Education
    (Part 2 – Writing for the Nation’s Future) / Trần Ngọc Ninh.
    Bach Khoa, Issue No. 369, pp. 23–31.
  • Education as an Investment Requiring Management and Planning: The Economic Foundations of Education
    (Part 3 – Writing for the Nation’s Future) / Trần Ngọc Ninh.
    Bach Khoa, Issue No. 370, pp. 23–29.
  • Discussion on the Etymology of the Words "Cái" and "Con"
    (with Mr. Bình Nguyên Lộc) (Part 1) / Trần Ngọc Ninh.
    Bach Khoa, Issue No. 373, pp. 19–26.
  • Discussion on the Etymology of the Words "Cái" and "Con"
    (with Mr. Bình Nguyên Lộc) (Part 2) / Trần Ngọc Ninh.
    Bach Khoa, Issue No. 374, pp. 29–37.
  • Culture and Medicine / Trần Ngọc Ninh.
    Bach Khoa, Issue No. 374, pp. 43–50.
  • Discussion on the Etymology of the Words "Cái" and "Con"
    (with Mr. Bình Nguyên Lộc) (Part 3) / Trần Ngọc Ninh.
    Bach Khoa, Issue No. 375, pp. 19–22.
  • Discussion on the Etymology of the Words "Cái" and "Con"
    (with Mr. Bình Nguyên Lộc) (Part 4) / Trần Ngọc Ninh.
    Bach Khoa, Issue No. 376, pp. 23–30.
  • The Meaning of Truyện Kiều in Folk Culture (Part 1) / Trần Ngọc Ninh.
    Bach Khoa, Issue No. 381, pp. 13–22.
  • The Meaning of Truyện Kiều in Folk Culture (Part 2) / Trần Ngọc Ninh.
    Bach Khoa, Issue No. 382, pp. 23–31.
  • Nguyễn Trãi: Illusion, Reality, and Emptiness / Trần Ngọc Ninh.
    Bach Khoa, Issue No. 390, pp. 9–15; 82–85.
  • Living with Ideologies (Part 1) / Trần Ngọc Ninh.
    Bach Khoa, Issue No. 394, pp. 9–17.
  • Linguistics and the Structure of the Vietnamese Language / Trần Ngọc Ninh.
    Bach Khoa, Issue No. 395, pp. 21–28.
  • Living with Ideologies: The Ascetic and Brahmin Sects through the Buddhist Lens (Part 2) / Trần Ngọc Ninh.
    Bach Khoa, Issue No. 395, pp. 29–34.
  • Living with Ideologies: The Ascetic and Brahmin Sects through the Buddhist Lens (Part 3) / Trần Ngọc Ninh.
    Bach Khoa, Issue No. 396, pp. 39–42.
  • Living with Ideologies: The Ascetic and Brahmin Sects through the Buddhist Lens (Part 4) / Trần Ngọc Ninh.
    Bach Khoa, Issue No. 397, pp. 33–40.
  • Mythology and Mythological Logic in the Search for National Origins / Trần Ngọc Ninh.
    Bach Khoa, Issue No. 413, pp. 39–46.
  • Medicine and Literature / Trần Ngọc Ninh.
    Bach Khoa, Issue No. 413, pp. 73–79.
  • Vietnamese Thought (Part 1) / Trần Ngọc Ninh.
    Bach Khoa, Issues No. 421–422, pp. 49–54; 113–117.
  • Vietnamese Thought (Part 2) / Trần Ngọc Ninh.
    Bach Khoa, Issue No. 423, pp. 29–33.
  • Vietnamese Thought (Part 3) / Trần Ngọc Ninh.
    Bach Khoa, Issue No. 424, pp. 31–37.
  • Discussion on Structure and Language / Trần Ngọc Ninh.
    Bach Khoa, Issue No. 425, pp. 39–44.

_  THẾ KỶ 21

https://www.nguoi-viet.com/ThuVienNguoiViet/TheKy21.php

  • In Memory of Journalist Trần Việt Sơn — Talk by Dr. Trần Ngọc Ninh, recorded by Bích Hằng. Thế Kỷ 21, No. 111 (July 1998), pp. 24–31.
  • The Most Critical Issue of the Coming Millennium: Risks and Promises (Parts 1–6) / Trần Ngọc Ninh. Thế Kỷ 21, Nos. 132–137 (2000).
  • The Hollow Men: A Poem by T.S. Eliot (1888–1965) — Translated and annotated by Trần Ngọc Ninh. Thế Kỷ 21, No. 148 (Aug 2001), pp. 38–44.
  • In Memory of Writer Phạm Duy Tốn / Trần Ngọc Ninh. Thế Kỷ 21, No. 174 (Oct 2003), pp. 38–41 & 17.
  • Forty Years Later / Trần Ngọc Ninh. Thế Kỷ 21, No. 175 (Nov 2003), pp. 15–19.
  • Hồ Xuân Hương and "Đoạn Trường Tân Thanh" (Parts 1–2) / Trần Ngọc Ninh. Thế Kỷ 21, Nos. 193 & 196 (2005).
  • Issues and Challenges of the Times / Trần Ngọc Ninh. Thế Kỷ 21, No. 207 (July 2006), pp. 18–23.
  • Honoring a Vietnamese Intellectual / Trần Ngọc Ninh. Thế Kỷ 21, No. 215 (Mar 2007), pp. 23–24.

 

OUTSTANDING MEDICAL PROFESSORS

Image 3: from right: Prof. May, Prof. Trần Ngọc Ninh, Prof. Nguyễn Hữu, Prof. Phạm Biểu Tâm, and Prof. Trịnh Văn Tuất. [family album of Prof. Phạm Biểu Tâm] 

Image 4: A committee meeting of the Saigon Medical School, from left: Prof. Trần Ngọc Ninh, Prof. Trịnh Văn Tuất, Prof. Trần Vỹ, Prof. Caubet, Prof. Phạm Biểu Tâm, Prof. Huard, Prof. Trần Đình Đệ, Prof. Nguyễn Đình Cát, Prof. Nguyễn Hữu, and Prof, Ngô Gia Hy. [family album of Prof. Phạm Biểu Tâm] 

The medical career of Professor Ninh hasd been described by fairly comprehensively by his students. This study will be devoted chiefly to his cultural contributions.

WITH THE SAIGON MEDICAL SCHOOL STUDENTS’ JOURNAL MEDICINE & COMPASSION

When studying medicine, I was not a student in the sense of being a close disciple of Professor Trần Ngọc Ninh: Professor Ninh's students at medical school could be counted on the fingers of one hand: very early there were Bùi Duy Tâm and Phạm Văn Biểu, both of whom dropped out, then Vũ Văn Nguyên died early while studying abroad in the US, and later there were Trần Xuân Ninh (whom I call “Ninh the Son,” to distinguish him from Ninh the Father, who was Professor Ninh), Võ Thành Phụng, Nguyễn Văn Quang, and Nguyễn Lương Tuyền... Unlike Professor Phạm Biểu Tâm, who was loved by medical students, Professor Trần Ngọc Ninh, though respected for his talent, knowledge, and authority, was disliked by some students because he was too strict.

I was close to Professor Trần Ngọc Ninh, not at the hospital bedside or in the operating room, but mainly through student activities with the journal Compassion (Tình Thương) during the period 1963-1967. Professor Ninh's articles in this medical student journal all had strategic vision, and raised major issues concerning Vietnam's Health, Education, and Culture, that are still relevant today.

TRẦN NGỌC NINH AND NUÔI SẸO

Right from the launch of Compassion, through Professor Trần Ngọc Ninh, the editorial board received the manuscript of Triều Sơn's long story Nuôi Sẹo, and began publishing it in installments in the newspaper with a solemn introduction: " Nuôi Sẹo is a work that many writers have been seeking to read for more than ten years now [as of 1964, author’s note]. The story could not be published in the communist North. It also could not have come out in the South, under the old regime. The author is Triều Sơn, a student who left school to join the revolution, worked at jobs, and set foot in many places around the world. And Triều Son died in Paris when he had almost finished editing the first volume of Nuôi Sẹo, which we are pleased to introduce here. But these few short lines are not enough for you, especially the young people, to know Triều Sơn and Nuôi Sẹo well. Therefore, we would like to give space to Trần Ngọc [pen name of Professor Trần Ngọc Ninh], a close friend of Triều Sơn, to write "Memories of Triều Sơn." Trần Ngọc met Triều Sơn again after fifteen years of separation and got to know Nuôi Sẹo at that time. Triều Sơn lived his last days with Trần Ngọc. That meeting was what has made it possible to introduce Nuôi Sẹo here. And we would like to express our sincere thanks to Trần Ngọc, who gave us the honor of welcoming this work to these pages." [Excerpted from Compassion, Issue 1, Jan. 1964]

Below is the. article “Nuôi Sẹo” by Professor Trần Ngọc Ninh, in itself a rare and valuable document that was thought to be lost, but has now been found again. Though written about Triều Sơn, it also affords us a portrait of Trần Ngọc Ninh in his youth, so it is also for that reason that we include it here.

Those Fifteen Years: Recollections of Triều Sơn ("Mười Lăm Năm Ấy, Kỷ Niệm về Triều Sơn") by Trần Ngọc.

I don't know how to detect seeds of talent in a young person. I started to know Triều Sơn when I entered the Specialized Mathematics class in 1939. I still remember Triều Sơn telling me, as we sat together:

“I have old friends who study Math for fun, but I also like studying Philosophy.”

"Old friends" referred to two other youngsters who had studied with Triều Sơn in previous years at the Bưởi High School; but from the very beginning, I was also Triều Sơn’s “old friend.” That year Triều Sơn was eighteen years old, a big fellow with full cheeks, a white face dotted with the small pimples of a teenager, thin hair combed back, and wearing a black silk shirt. In the whole class, only the two of us wore such a shirt, but perhaps those were our only similarity.

 

Image 5: Portrait of Triều Sơn / Bùi Văn Sinh 1921-1954[source: the journal Literature (Văn), May 15, 1965, Special Issue Commemorating Triều Sơn]

Triều Sơn liked studying Philosophy more than Mathematics, and I liked studying Mathematics more than Philosophy. Actually, Triều Sơn had been deeply involved in Philosophy for quite a long time. When he was in his third year of high school, he had read Kant, Fichte, and Hegel; and he was later influenced even more by German Philosophy, through Marx and Husserl, but Triều Sơn was not a person of one school of thought. He had studied both modern European Philosophy and ancient Eastern Buddhist-Taoist philosophy. Moreover, Triều Sơn’s native thoughtfulness would at length take him beyond the petty theories of the sects. However, in class, there was no sign that Triều Sơn had learned much: his grades were only average, even in philosophy. Perhaps his germ of talent was still hidden in the seed, or perhaps Triều Sơn's somewhat unique thoughts were not suitable for the superficial learning style of schools?

After graduating from high school, each of us went our separate ways. Triều Sơn, who did not like Math, entered the General Mathematics class. But he did not study Math for Math's sake. All day long I saw him in the library reading about the philosophy of mathematics. Books by Whitehead, Bertrand Russell, and Hamilton, dusted by time, were deeply ingrained in the young student's mind. At that time, he only talked about "infinity," about "imaginary numbers", about mathematical reasoning, and about the “foundations of understanding.” As a result, at the end of the year, after failing the exam, Triều Sơn dropped out of school but was satisfied because he had filled a gap in his thinking.

For a while, I did not see Triều Sơn again. This was the period when his talent blossomed. What made the sprout grow, penetrate the soil, and reach the blue sky? Later, when Triều Sơn wrote The New Path of Literature and Art, he would emphasize the importance of being close to the people; any artist who is far from the people, he said, would become barren or spiritually diminished. Going into the masses, living with the masses, and harmonizing one's life with the common life, must be the motto of the vanguard artist. His life exemplified that piece of advice. The masses had trained Triều Sơn 's talent, nurtured Triều Sơn 's spirit, and forged Triều Sơn 's ideology. He threw himself into the revolution, became a worker in the Hòn Gay coal mine, worked in administration in Hai Dương, taught in Phú Thọ, worked on a ship as a coolie, wandered through Guangdong to mingle with the new Chinese people, lived in Hong Kong and Sri Lanka, went to Africa to work as a mechanic, then returned to France, and lived with his fellow soldiers and workers in Marseille, Bordeaux and Paris.

I met Triều Sơn again in Paris.

In between, I in fact met Triều Sơn a few other times in the haste of an overland land trip, but nothing significant occurred. One day he came in from outside the Zone, and talked about spiritual questions that historical materialism could not solve; another day he discussed Zhuangzi’s concept of freedom; another day he criticized literature and art, and talked about the depravity of intellectuals who were led by the imperial examinations to an easy path of fame and fortune, far removed from the lives of the working people. Then Triều Sơn went to Saigon to work as a journalist, honing his pen in short stories, in free verse (under the name Ninh Huy), or satirical poetry (under the name Thang Thang), or debating about Art, Philosophy or social issues. During this period, he wrote a verse drama that made skillful use of elements adapted from Greek tragedies to tell the story of the awakening of a soul imbued with Buddhism before the current spectacle of the suffering of a whole nation. The Black Flag Bandits (Giặc Cờ Đen) had a very classical structure; Triều Sơn skillfully wove Greek tragedies into a portrayal of Vietnamese society, and used ancient poetic words, sometimes gloomy, sometimes profound, sometimes intense, to portray the feelings of the characters. But Triều Sơn later said that in terms of poetry, The Black Flag Bandits had only a few lines that satisfied him; in terms of drama, success would have been more certain if he had had time to bring the play out on the stage.

But at that time Triều Sơn also had a big dream about Nuôi Sẹo.

What was this Nuôi Sẹo? I met Triều Sơn again in a small, narrow room, crammed with books, coal, and paper on Bièvre Street, in Paris’ fifth arrondissement, and that is also where I got to know Nuôi Sẹo.

“Nuôi Sẹo” is the main character of a long novel about Vietnamese society in the last days of the French colonial period. He works as a village crier, specializes in debt collection and burial. Nuôi Sẹo is a worm, a beetle, in the hierarchical society of a northern Vietnamese village. Triều Sơn wanted to use Nuôi Sẹo eyes to describe that feudal society, and then use Nuôi Sẹo’s personality to open up a concept of life.

This was not an easy task. A large painting required a lot of effort and time: Triều Sơn put in five or six years of his life on it, always carrying the manuscript tightly with him, from the Military Zone / chiến khu to Hanoi, and on all his journeys, shoveling coal to feed the furnace all day, in the evening taking off his green shirt as a ship's porter to correct a sentence or two; or lying in the Yễm Yễm library, revising a few unsatisfactory passages. Nuôi Sẹo was always in his mind; before Nuôi Sẹo was even published, the Vietnamese literary world already knew his face, publishers were competing to sponsor him, a French writer had already made an appointment with the author to translate his story into French, and an artist had gone looking for materials to redraw some scenes from his life. Triều Sơn kept pondering, editing, deleting, adding, and putting all his health into it, until the day he could no longer hold a pen.

But drawing a picture of society was not Triều Sơn's main concern. His main concern was Nuôi Sẹo, the person Nuôi Sẹo, the mentality of Nuôi Sẹo...

Sometimes I went out for a drink with Triều Sơn. In the Saint-Germain-des-Prés area, the artistic district of Paris, there was a café with a reddish-brown door, small and warm, always crowded with customers. Whenever he went there, Triều Sơn would sit for hours without getting up, with a forty-five-franc cup of “chocolat.” Why Triều Sơn liked that café, I don't know. In Paris, he had connections with the French writers Vercors, Marcel Aymé, and Jean-Paul Sartre. Perhaps it was because his meetings with those writers often occurred in the setting of that café. Perhaps Triều Sơn also often went to meetings of the Philosophical Society in that area. Sometimes he would go to give a lecture there and when he left, he would turn into that café. Sitting there with Triều Sơn, I would listen to him talk to me about his problems with Nuôi Sẹo.

 

Image 6: from right: a page of “Nuôi Sẹo,” printed in installments in the student journal Medicine and Compassion (Y khoa Tình Thương) no. 14 with a cover designed by Nghiêu Đề, February, Spring of the year Ất Tỵ, 1965.[personal archives, Ngô Thế Vinh]  

I know that Triều Sơn had reviewed all aspects of Vietnamese grammar and had very special ideas on that subject. He did not back away when he saw points that needed to be supplemented to make his enterprises more refined. When using a word the spelling of which was uncertain, Triều Sơn would check it in dictionaries, and although he was careful, he was still worried that he had overlooked many misspelled words. As fond of philosophy as he is, he felt he had to refrain for months from opening a philosophy book, so as not to be influenced by the abstract writing style of philosophers...

Triều Sơn revised and revised Nuôi Sẹo, putting it through five or six versions, but still refused to publish it. The first volume, in its earliest version, was 900 pages long, but was reduced to 400 pages. Triều Sơn still thought that was not enough, "It's still too long, it should be only 300 pages", he said. His friends were afraid that if he shortened it too much, it would become dry. But Triều Sơn only promised that this revision would be "the last", and then he would let all his friends review and criticize it, and then revise it according to those criticisms, before publishing. He said: "When it's done, I will record my apprenticeship experiences in a book called “I am Learning to Write". (Tôi tập viết Văn) But Nuôi Sẹo was never completely finished. It was still unfinished when he became seriously ill and had to abandon it forever.

Triều Sơn also left behind a collection of long stories in six-eight couplets, several short stories, a few poems, a half-written introductory philosophy book, and manuscripts of letters discussing philosophy and sociology with several professors at the Collège de France and the Sorbonne (Jean Wahl, Gurwich). As for Nuôi Sẹo, he had almost finished editing the first volume, but the second volume was still a jumbled pile / một mớ hỗn độn of manuscripts. As for all his other commitments, he took them away to his place of burial deep in the soil of Paris... [End of quotation, Compassion No. 1, 1-1964] (4)

Image 7: The long novel Nuôi Sẹo by Triều Sơn. A “Reborn” Nuôi Sẹo created by Trần Hoài Thư. Manuscript Repository (Thư Quán Bản Thảo), the periodical VHNT no.77 November, 2017. [personal archives, Ngô Thế Vinh]

And then, unexpectedly, more than half a century later [1963-2018], I had the opportunity to meet Professor Ninh again, and give him the pages of the extended story Nuôi Sẹo from the past, in the form of Nuôi Sẹo Reborn of It was not complete, but had benefitted much from efforts of the writer Trần Hoài Thư and his associates in the Thư’s Manuscript Repository (Thư Quán Bản Thảo). (5)

And on this occasion, I learned that Triều Sơn had a son still living in Vietnam. His daughter Minh Chân, who calls Triều Sơn Bùi Văn Sinh "Grandpa", currently lives in Southern California. Four years ago, she came to visit Professor Ninh. Through Professor Ninh's introduction, I got to talk to Minh Chân and learned that her father's name is Nguyễn Vân Sơn, born on October 7, 1951 [her father has the last name of his mother, the female writer Nguyễn Thị Lan Phương, born in 1921, now deceased].

I really hope that in the future, when I can contact Triều Sơn’s son, there will be a special edition of the novel Nuôi Sẹo from the Manuscript Library send to him, as the heir to the spiritual legacy of his father, whom he probably never knew and only heard about from his mother in later years. Triều Sơn Bùi Văn Sinh died in Paris in 1954, due to cirrhosis of the liver. At that time Triều Sơn was only 34 years old.

WITH CYCLOPEDIA, A CULTURAL PORTRAIT

It was not only through the student publication Medicine & Compassion (Tình Thương) that I came to be close to Professor Trần Ngọc Ninh, but also through the journal Cyclopedia (Bách Khoa) of Mr. Lê Ngộ Châu, the office of which was located on 160 Phan Đình Phùng in Saigon. His activities there provide us with another portrait of Trần Ngọc Ninh in the field of culture.

Through reading Professor Trần Ngọc Ninh’s articles in Cyclopedia, I became familiar with his very diverse cultural personality. The articles were on diverse subjects such as: the Buddhist religion in our common life, the Buddha and Social Reform, anthropology as exemplified by Claude Lévi-Strauss, ethnology as evidenced in myths and legends, and even linguistics. In discussing structure and language, he very early introduced Noam Chomsky and his discoveries in Structural Linguistics, and his theory of a Universal Grammar. Later, he pursued these ideas further and and sought to apply them in his books on Vietnamese Grammar. (7)

Image 8: in the home of Võ Phiến July 30, 1994; from right: Prof. Trần Ngọc Ninh, the ediror-in-chief of Cyclopedia (Bách Khoa) Lê Ngộ Châu, Võ Phiến and his wife, Lê Tất Điều and his wife. [personal achivers of Viễn Phố]

Image 9: in the home of Professor Trần Ngọc Ninh in 1994.  From left: the writer Võ Phiến, Prof. Trần Ngọc Ninh, Prof. Nguyễn Văn Trung who came down from Montréal Canada, Ngô Thế Vinh. [personal archives, Ngô Thế Vinh] 

Professor Trần Ngọc Ninh was not only an outstanding professor of medicine, but also a culturalist with extensive knowledge in many fields, a model of intellectual training according to the classical European educational concept. As a professor of medicine, he was also invited to teach such subjects as General Civilization and Vietnamese subjects at Venerable Minh Châu’s Vạn Hạnh University. Some articles of his appeared in the journal Thought (Tư Tưởng) as well.

Image 10: The cover of the book A Dream for Vietnam, Culture, Myth, and Literary History (Ước Vọng Duy Tân. Văn Hoá, Huyền Thoại, Văn Học Sử), the selected Writings of Trần Ngọc Ninh; edited by Trần Uyên Thi; Institute of Vietnamese Studies (Viện Việt Học), California, 2012 [personal archives, Ngô Thế Vinh] 

Image 11: a handwritten note that Prof. Trần Ngọc Ninh sent to Ngô Thế Vinh upon the debut of his book A Dream of Modernity (Ước Vọng Duy Tân) in 2012. [personal archives, Ngô Thế Vinh] 

A BOAT-PERSON WHO WAS AN INTELLECTUAL 

The upheaval of 1975, was a second life-changing event in Vietnam, the first being the division of the country in 1954 dictated by the Geneva Accords.

After 1975, many medical professors who migrated from the North to the South remained in Vietnam, such as Professor Phạm Biểu Tâm, Professor Trần Ngọc Ninh, Professor Hoàng Tiến Bảo, Professor Nguyễn Đình Cát. These professors were now old and had to go to work by bicycle every day to the hospital, or further to the Medical School on Hồng Bàng Street in Chợ Lớn. In addition to taking care of patients and teaching students, these professors also had to do additional non-medical work, such as cleaning toilets and taking out trash. I can't forget the scene of Professor Phạm Biểu Tâm who while cleaning toilets at Bình Dân Hospital fell and suffered bruises. Professor Tâm was very afraid that his wife would worry, so he told his colleagues not to inform her.

As always, and in all circumstances, the professors maintained the lofty character of intellectuals, never uttering words of praise for the new regime. They could not help but feel heartbroken when they every day had to witness the ignorance that was rife in the people's health care system in consultations or meetings with revolutionary doctors, most of whom had not finished high school. They were "red” only and devoid of specialized training. And, whether coming from the North or from the jungle, they were very arrogant.

A typical example took place during a morning meeting at Bình Dân Hospital after 1975. Dr. Lê Quang Dũng, a long-time intern of the hospital, recounted that when he reported on a case of breast abscess surgery, a Việt Cộng military doctor questioned him: "Why did you perform surgery on a breast abscess?" Dr. Dũng replied: "Because the breast abscess had pus, so it had to be drained." The Việt Cộng doctor scolded Dũng: "You’re so ignorant! In the war zone, I chewed Kalanchoe leaves (lá cây sống đời) and applied them to the patient’s breast. Five minutes later, the abscess disappeared without any surgery." Professors Phạm Biểu Tâm, Trần Ngọc Ninh, and Hoàng Tiến Bảo, who were also present at the meeting, could only shake their heads in dismay.(3)

Having to live in adversity and witness such discouraging scenes, Professor Trần Ngọc Ninh once told his students in a sour and contemptuous tone: "A consultation with ten zeros added together is still zero."

Professor Vũ Quí Đài, the last dean of Saigon School of Medicine, still remembers that when the Việt Cộng Military Administration came to take over the Medical School, they convened a meeting of students and the entire Faculty in the lecture hall. This was supposedly to reassure them, but their tone both boastful and threatening. Professor Vũ Quí Đài recounted: "At that time, Professor Trần Ngọc Ninh leaned over to me and whispered a quote from the Tale of Kiều: “A flippant servant to foes – what fate awaits such shame” (Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu?)

Listen to a further remark made by Trần Ngọc Ninh:

"On the scientific level, after North Vietnam had defeated the South, the struggle began between the scientific medicine of the South and the people's medicine of the North. In this struggle, the people were the victims, but they were also the court, the “people's court.” The prize to be gained was the future of health in Vietnam. Health means the strength to perform labor. Ideology cannot hide truth...

Image 12: The cover of Some Glimpses of the History of the Saigon Medical School, 1954 –1975 (Một chút lịch sử Y khoa Đại học đường Sài Gòn 1954-1975) by Trần Ngọc Ninh, published by the Association of Vietnamese Doctors in Canada, 2002. (on pp. 38-39, mention is made of the two medical systems that existed in Vietnam after 1975: the Scientific Medicine of the South, and the “People’s Medicine” of the North). [personal archives of Ngô Thế Vinh] (6)

In 1977, after hearing the order from the leaders of Northern medicine that from now on, no "lofty" medical procedures (thủ thuật y khoa cao cấp) that could be utilized in Vietnam. This included the transformation of water and electrolytes or the use of antibiotics subsequent to the era of penicillin, or surgeries considered to be overly complicated or difficult. I took the liberty to say at the beginning of my surgical pathology class (bệnh lý phẫu khoa): "You are the last students to whom I will teach Scientific Medicine. I will teach it no more. From next year, I will teach only People's Medicine. And you must try to follow what I teach. Don't forget that you are the last heirs of Scientific Medicine."

“When the medical student Nguyễn Thanh Công [before 1975, an undercover communist student living in the area who was imprisoned in Chí Hoà, who was visited by Professor Ninh himself and afterwards released, and who in 1976 had returned to the Medical School to be in charge of student management], heard those words, he planned to set up a ‘People's Court" to impeach me.’ But that's not why I left Vietnam."

Professor Ninh continued: "He said this because he realized that the entire policy of the Communist Party of Vietnam was just fake socialism that would lead the Vietnamese people into a life of endless suffering. And what is even worse is that "The Party and the State want to require that Scientific Medicine be exclusively reserved for cadres, while “People's Medicine” is to be applied to the people." (6)

And then very soon, just two years after April 30, 1975, on June 6, 1977, Professor Trần Ngọc Ninh and his family boarded a boat to cross the ocean in search of freedom, while at the same time he was being congratulated as one of only four people retained by the Government Council in the position of Professor with the highest salary.

He and his family eventually reached the Malaysian island of Pulau Besar, and he chose to settle in the United States, where he would have to start over, instead of going to France where he had been educated and made his name.

The early departure from the country of an intellectual of his stature was at that time a great shock to the leaders of Hanoi and to all the intellectuals of the South.

THE HIDDEN STORY OF NGUYỄN TUÂN’S TEAPOT

I came to America more than six years after Professor Ninh, but after a period of study, both of us eventually returned to our old professions. From New York, I returned to work at a VA hospital in Southern California, and though I was busy, I still had the opportunity to see the Professor on weekends.

During a meeting at the home of Võ Phiến, the famous writer of casual essays (tuỳ bút) in the South before 1975, when Võ Phiến was still in Los Angeles; our host happily showed off a teapot that had belonged to the writer Nguyễn Tuân. Võ Phiến greatly cherished the work of Nguyễn Tuân. Đặng Tiến had been given the teapot by Nguyễn Tuân himself after he had used it for many years. Later, Đặng Tiến passed it on to Võ Phiến when the latter a trip to France in 1987, the year that Nguyễn Tuân passed away in Hanoi.

The small, simple teapot made of blue-glazed porcelain, with the word Tonkin printed on the bottom, was quite old and looked very ordinary, but it had belonged to Nguyễn Tuân, the Nguyễn Tuân with the smooth essays of Echoes of a Bygone Time (Vang Bóng Một Thời), and of A Bowl of Tea in the Morning Dew (Chén trà trong sương sớm) with the character Cụ Ấm, for whom tea drinking was almost like a tea ceremony.

Between the first two cups of tea, Mr. Ấm said to his eldest son:

"Cả, the water for making tea is as fragrant as the water that collects on lotus leaves. Each leaf has only a little bit. You have to collect from many leaves to make a pot. When I was young, every time the Governor ordered me to go on a basket boat to scoop up those silver drops from the lotus leaves on the surface of the pond, I thought it was the most wonderful thing in the life of a student who was loved by his teacher like his own son...

Then Mr. Ấm lamented that the autumn had passed, leaving the lotus pond with all its leaves and tattered branches." [end of quote, from Echoes of a Bygone Time]

That was the style of Nguyễn Tuân in the pre-war era, Echoes of a Bygone Time.

Then, during the Resistance war (Kháng Chiến), Nguyễn Tuân transformed himself. He was afraid of tyranny and wished to survive, so he quickly followed the current trend and joined the Party, after which he climbed to the position of General Secretary of the Vietnam Literature and Arts Association. Not stopping there, during the Land Reorm Campaign (thời kỳ cải cách ruộng đất), Nguyễn Tuân also wrote an energetic self-criticism, "Clearly grasping my mistakes." (Nhìn Rõ Sai Lầm) He was determined to break away from his petty bourgeois romantic past, resolutely rejected his own work Echoes of a Bygone Time, which had made his name. After that, he became a Nguyễn Tuân who knew how to use his literary talent to praise the socialist paradise to the skies.

If, with Echoes of a Bygone Era, Nguyễn Tuân was praised as a master of the casual essay genre in Vietnamese literature, then later, with literary pieces that wholeheartedly served the Party and socialism, Nguyễn Tuân was worthy only to be ranked as a second-rate propagandist.  Nguyễn Tuân is also remembered and mentioned for saying: "That I am still alive today is because I knew enough to be afraid..."

My close friend Nghiêu Đề recounted that after 1975, when Nguyễn Tuân went to Saigon to the City's Literature and Arts Association, and saw Echoes of a Bygone Time printed beautifully by the Cảo Thơm Publishing House in 1962 with Nghiêu Đề’s illustrations, Nguyễn Tuân was delighted to be reunited with that offspring of his imagination that he had firmly rejected more than once.

The small teapot that Professor Trần Ngọc Ninh held in his hand and admired was not the one of Mr. Ấm with the “Cup of Tea in the Morning Dew,” but of a Nguyễn Tuân who followed the resistance, pouring out bitter cups every day during the tragic journey of more than half of his life.

Image 13: visiting the home of the writer Võ Phiến in Los Angeles. From left: Prof. Trần Ngọc Ninh, the writer Võ Phiến, and Ngô Thế Vinh; right: Trần Ngọc Ninh admiring a tiny teapot that had belonged Nguyễn Tuân that Võ Phiến had brought out to show to his guests. [photo by Viễn Phố]

Image 14: What is to Be Done? (Làm Gì?) a book on Politics (1979) that Prof. Trần Ngọc Ninh, did not wish people to refer to. He was a medical professor with an international reputation, but when he came to the U.S. as a foreign doctor, he still had to start his career from the beginning. At night, in his after-hours, he still had sufficient enterprise to produce a300-page collectioµn of political studies with the following notation at the end: "completed at noon on March 24, 1979 in the Trường Sơn Mountain Range of the American continent” (Rocky Mountain Range, Denver, Colorado). [personal archives, Ngô Thế Vinh] 

A FEW PERSONAL MEMORIES

In 2004, when The Green Belt (the English version of my novel Vòng Đai Xanh) was published by Ivy House, Professor Trần Ngọc Ninh wrote:

"Ngô Thế Vinh started writing when he was still a student. Starting in 1963, together with his friends at the Medical School, he created the journal Compassion (Tình Thương) as a forum for humane ideas, aiming for an ideal society and not heavily influenced by any "ism". Even as a student journalist, Ngô Thế Vinh was very concerned with issues facing the Montagnards.

After graduating from medical school, he became a Green Beret doctor of a Special Forces Airborne unit that mainly operated in the mountainous areas of the Central Highlands. The Green Belt has as its setting the Vietnam War in the Highlands with real scenes and real people. Even “more real” is its portrayal of the suffering of the Montagnards during and immediately after the war. And we cannot forget how tragic the peace was for the defeated side after an ideological war. The Green Belt is a work of conscience and courageous commitment. As soon as it was published, the book was widely received and praised by Southern intellectuals but at the same time was condemned by the Southern government as sabotage. 

Now 30 years after the war’s end, a superb English edition by Nha Trang and Pensinger will certainly be as widely welcomed as the first edition was, because the issue of the survival of the Montagnards of the Central Highlands addressed in Green Belt remains relevant today.

For the Vietnamese, the tragedy of our time is that every present and future war carries the seeds of destruction, for which the Green Belt bears multifaceted and multi-exemplified witness. Those ethnic minorities have no voice. When will their “silent voice” be truly heard?” [Trần Ngọc Ninh, Institute of Vietnamese Studies, author The Snows of Yesteryear / Tuyết Xưa]

Image 15: The cover of the English edition of The Green Belt, (Vòng Đai Xanh), published by Ivy House, USA in 2004. [personal archives, Ngô Thế Vinh] 

Later, whenever a new work of mine was about to be released, I sent it to Professor Ninh and asked him for a comment. He frankly refused with the answer: "Vinh, you are now well-known and do not need my introduction anymore." I received his opinion with all humility and gratitude.

A BIOLOGICAL DESTINY

Unlike the person he had been when young and passionate, involved in politics and parties, Professor Trần Ngọc Ninh was now about to enter his centenary, so, in writing about him, I had the impression that politics was now a phase he had left behind and that he only wanted to be mentioned as a person with cultural views and contributions."

Speaking of culture, Professor Trần Ngọc Ninh chose an excerpt from his Snows of Yesteryear (Tuyết Xưa; p.100): "For human communities, culture serves both as means of mutual recognition and as a means of distinguishing ‘the other.’ It is also tool used to explain and guide the life of the group in the natural landscape that they have mastered..." (2)

To write satisfactorily about Professor Trần Ngọc Ninh would probably require more than a book. I would also like to suggest to young people at home and abroad who are preparing their doctoral theses that a cultural portrait of Professor Trần Ngọc Ninh make a very rich and attractive topic to explore and engage in.

As if making final confession, when answering Trần Uyên Thi, who later was a very young student at the Institute of Vietnamese Studies, Professor Trần Ngọc Ninh expressed himself as follows:

"Now that I've reached old age [89 years old, as of 2012], I see even more that my understanding, my knowledge, and my sight have been superficial; they have extended only to the surface of things (including history and science). That is the biological fate of humans on this earth." (1)

THE PASSING OF A RESPECTED PUBLIC FIGURE

Professor Trần Ngọc Ninh peacefully passed away at the age 103 on July 16, 2025 at Hoag Hospital, in Newport Beach, Southern California. News of his passing was only shared by his family two weeks later, in accordance with his wish for an extremely simple Buddlish funeral held privately within the family. There was no obituary, no eulogy and the family faithfully fullfilled his wishes. He was laid to rest at Loma Vista Memorial Park in Fullerton, approximately 20 km from Little Saigon, beside the grave of his late wife, who passed away in the year 2020 during the Covid-19 pandemic. His gravestone is remarkably simple, bearing no titles or honors – only his name and his Dharma name “Orgyen Karma, symbolizing enlightened activity”.

Image 16: Prof. Trần Ngọc Ninh’s gravestone. [photo taken by Dr. Nghiêm Đạo Đại on Monday August 11, 2025, personal archive of Việt Nguyên]

NGÔ THẾ VINH

Hà Nội 1954 - Sài Gòn 1975
California, July 11, 2018 – August 16, 2025
[ CREATIVE WORLD OF SOUTH VIETNAM
& OVERSEAS TO THE PRESENT VOL.2 ]

 References:

  1. A Dream for Vietnam / Ước Vọng Duy Tân /. Tuyển Tập Trần Ngọc Ninh. [chủ biên Trần Uyên Thi]; published by Viện Việt Học, 2012
  2. The Snows of Yesteryear (Tuyết Xưa); Tuyển tập các Vấn đề Văn hoá Việt Nam, Khởi Hành Publishers California Hoa Kỳ 2000
  3. Professor and Doctor Phạm Biểu Tâm (Giáo sư Bác sĩ Phạm Biểu Tâm), Biểu tượng của Y đạo Y học Y thuật. Tập San Y Sĩ Canada 201, tháng 05.2014
  4. Mười lăm năm ấy, Kỷ niệm về Triều Sơn [Trần Ngọc Ninh, với bút hiệu Trần Ngọc], The monthly Periodical Compassion (Tình Thương), no 1, January, 1964
  5. The Writer Triều Sơn (Nhà Văn Triều Sơn) (1921-1954). Trần Hoài Thư, Manuscrip Library (Thư Quán Bản Thảo), No. 77 November,.2017
  6. Glimpses of the History of the Saigon Medical College (Một Chút Lịch sử Y khoa Đại học đường Sài Gòn), Trần Ngọc Ninh, et al. Hội Y Sĩ Việt Nam tại Canada 2002
  7. The journal Cyclopedia (Tạp chí Bách Khoa: The Online Library of Người Việt (Thư Viện Người Việt Online)