Thứ Sáu, 27 tháng 1, 2012


Thân Trọng An



Các môn sinh Y Khoa tại Việt Nam đều biết và nhớ công ơn của quí Thầy Cô, nên khi TSYS kêu gọi bài vở thì mọi người đều vui vẻ viết ngay, tình nghĩa Thầy trò xem ra vẫn còn thắm thiết vô cùng, thật là một việc rất “dễ thương” đáng tán thưởng.
Những ân tình cá nhân, hay với một vài “đệ tử” chân truyền là điều đương nhiên, nhưng ân tình và ảnh hưởng của những vị Thầy đối với các Hội Y Sĩ VN mới thật là chuyện vô tiền khoáng hậu. Vì chỉ có y sĩ Việt Nam mới phải di tản, tỵ nạn hàng loạt, mới biết tụ họp lại tạo nên một sức mạnh nhờ số đông và tri thức (do các vị Giáo sư truyền đạt, và cũng do cá nhân mình cố gắng) để lập lên những hội ái hữu.
Vai vế của những bậc Thầy trong ngành Y khi nào cũng được kính trọng, lời khuyên nhủ khi nào cũng được tuân thủ, chúng ta không thấy kỳ lạ chút nào vì, mặc dù “autres temps, autres moeurs...” Thầy của chúng ta đều giữ đầy đủ đạo đức, đều hành xử như bậc cha chú, đều nêu gương sáng của bậc Thầy cho chúng ta noi theo.
Thế nhưng trong các Hội Đoàn, các vị Thầy ít khi “bị” yêu cầu xung phong giữ những chức vụ đứng mũi chịu sào, mà chỉ “bị” đóng vai cố vấn hay hoà giải khi Hội gặp khó khăn, nghĩa là vai trò của các bậc “tiên hiền”.
HYSVN tại Canada có hân hạnh được Gs Nguyễn Thế Minh ngồi rất lâu trong chức vụ “Ủy Viên Học Tập” của Khối Huấn Luyện, đến tận cuối năm 1996. Trong khoảng thời gian này, Gs Minh đóng góp tích cực cho Ban Chấp Hành, chịu khó đi họp rất đều đặn và làm việc rất hăng say, không nề hà việc lớn nhỏ, vai vế, chức vụ. Thật là một điểm son đáng ca ngợi.
Gs Đào Đức Hoành hành nghề trở lại tại Montréal, rất được học trò yêu kính. Về sau Thầy rất mộ đạo, rất “ngộ đạo” và thường thuyết pháp tại chùa. Năm 1991, khi HYS dọn về trụ sở mới (vẫn còn cho đến ngày hôm nay) Thầy và Cô Hoành có tổ chức một lễ “cầu siêu” kiểu lễ Macchabée để giữ truyền thống Y Khoa Saigon.
Khi Thầy thấy có bệnh gì thì gọi học trò chữa trị, tỏ lòng rất tin cẩn vào sự tận tâm và khả năng của học trò mình. Và nhờ thế mới tìm ra bệnh của Thầy rất sớm.
Gs Trần Lữ Y mãi về sau mới từ Pháp sang định cư tại Montréal, rất thân với nhiều học trò cũ và với vài anh em trong Ban Chấp Hành. Thầy không can thiệp vào sinh hoạt của Hội, từ chối những lần “bị” mời tham dự sinh hoạt này nọ, nhưng khi cần tình riêng giúp đỡ anh em thì Thầy không bao giờ từ nan. Các Bs Nguyễn Mậu Hoàng, Phạm Hữu Trác, Lý Hồng Sen, Mạc Văn Phước, Trọng, Tín đều rất thân thiết với Gs Lữ Y.
Gs Phạm Gia Cẩn không có liên lạc chính thức với Hội, nên kẻ hậu bối ít có dịp đuợc gặp Thầy.
Gs Nguyễn Đình Cát, tuy ở Hamilton, Ontario, nhưng có liên lạc với Hội khá nhiều, và Hội được hân hạnh Thầy ủy thác cho in và phát hành (Hội in sách lần đầu tiên) quyển “le boire et le manger vietnamiens à travers la littérature populaire” của Thầy  năm 1991. Bài tựa do Gs Trần Ngọc Ninh viết rất bay bướm, và Thầy bắt TTA phải dịch sang pháp văn 4 câu trích trong Kinh Thi của bài tựa này.
Những vị Thầy khác ở xa Montréal, nhưng có vài vị lâu lâu qua Montréal, tham dự Đại Hội hay thăm gia đình, nên HYSVNC được hân hạnh đón tiếp một vài lần.
Năm 1987, tại Đại Hội Quốc Tế Y Sĩ đầu tiên họp tại Montréal, và 10 năm sau đó tại Đại Hội Quốc Tế Y-Nha-Dược Sĩ kỳ II năm 1997, chúng ta hân hoan gặp lại các Gs Trần Quang Đệ, Gs Nguyễn Hữu, Gs Trần Ngọc Ninh, Gs Trần Văn Bảng, Gs Đinh Văn Tùng, Gs Nguyễn Ngọc Giệp, Gs Đào Hữu Anh, Gs Đỗ Thị Nhuận, Gs Tăng Nhiếp, và nhiều vị Giáo sư khác nữa ... mà trí nhớ của tôi càng ngày tệ, càng “Alzheimer” nên quên sót mất (xin thành thật cáo lỗi). Thật là những dịp trùng phùng vui vẻ.
Ảnh hưởng của Gs Nguyễn Hữu trên Hội Canada rất là độc đáo, từ trước đến giờ e rằng chưa có một lời khuyên nào của một vị ân sư mà làm cục diện thay đổi một cách tuyệt vời như vậy.
Tháng 10 năm 2003, trong Đại Hội Thường Niên có bầu cử của HYSVNC, khi sắp đến màn ứng cử - bầu cử Hội Trưởng và các chức vụ trong Ban Chấp Hành thì Bs cựu Hội Trưởng (sáng lập) Nguyễn Tấn Hồng đưa Gs Hữu đến Đại Hội Đồng. Thấy chưa ai chịu ra ứng cử chức Hội Trưởng, Thầy hỏi thăm và nói ngay Bs Trần Đình Thắng mới làm xong có một nhiệm kỳ, dù có muốn hay không anh Thắng cũng nên phải đảm nhiệm thêm một nhiệm kỳ nữa cho đủ như truyền thống. Vì lời nói này của Thầy Hữu mà Bs Thắng, mặc dù  lúc trước đã cương quyết từ chối nhiều lần rồi, phải vâng lời tái đảm nhiệm chức vụ thêm 2 năm nữa. Trước đó Thầy thường nói “le Trác”, “le An”,  nay thêm “le Thắng”.
Quý vị có biết tại sao vậy không ? Đó “ là  nhờ ơn Ngô Tổng Thống” khi không bị “lộn chapitre”. (ai có học với Thầy Hữu ngày xưa tại Saigon chắc còn nhớ những câu thường nói này của Thầy)
Gs Trần Văn Bảng có học trò cưng là Bs Mạc Văn Phước, rất quý trọng các Bs Phạm Hữu Trác, Hồ Quang Nhân ở Montréal, và Bs Phạm Tu Chính, Phạm Ngọc Tỏa ở Paris nên khi sưu tầm bài vở để sửa soạn in tập Thư Mục Y Giới Văn Thi Nghệ Sĩ đã lo xa dặn dò những vị này cũng như  hai hội Pháp và Canada phải thành toàn tâm nguyện in và phát hành quyển sách của Thầy nếu Thầy chưa kịp hoàn thành. Sự lo xa đó đã được thực hiện năm 1997, vừa kịp ra để mắt trước ngày Đại Hội Quốc Tế.
Trước đó Thầy cũng đã giao cho anh Mạc Văn Phước phát hành tập thơ “ Duyên Thơ tình bạn”.
Khi được báo hung tin, HYSVN tại Canada đã tổ chức lễ phát tang tại Montréal cho Gs Phạm Biểu Tâm tại trụ sở Hội, chủ tế là Bs Nguyễn Tấn Hồng, bồi tế là Bs Nguyễn Thanh Bình, tân hội trưởng.

Đó là vài kỷ niệm «officiels et officieux » mà tôi biết và nhớ, xin viết ra trình quý độc giả, còn những kỷ niệm riêng tư giữa Thầy và Trò thì nhiều lắm, tôi biết không hết, và dù có biết thì cũng không dám kể ra vì ngoài khuôn khổ của bài viết này.
Nhân dịp này tôi xin thay mặt Ban Biên Tập cám ơn sự giúp đỡ quý báu của tất cả các huynh trưởng đã đáp ứng lời kêu gọi mà bỏ công viết lại những kỷ niệm yêu quý thuở “ngày xưa còn bé” để tất cả chúng ta cùng hồi tưởng lại và ghi nhớ công ơn của những vị ân sư. “Không Thầy đố mày làm nên”.
Tôi muốn đặc biệt cám ơn các Bs Phạm Tu Chính, Trần Văn Tích, Bùi trọng Căn, Trần Ngọc Quang, Trần Văn Khánh, Lưu Đình Huệ, Nguyễn Hữu Nam, Phạm Ngọc Tỏa, Đặng Minh Tâm, Hồ Kim Chi, Nguyễn Văn Thuận, Nguyễn Hoà Hiếu, Lý Hồng Sen, Lê Thái, Nguyễn Thanh Long, Quản Phương Thảo ... Cũng xin cám ơn lời nhắc nhở khéo léo của Gs Đỗ Thị Nhuận và của bạn Bs Nguyễn Tri Phương giúp TSYS lưu ý sửa sai những sơ xuất ngoài ý muốn.
Hy vọng rằng : “Lời thô góp nhặt dông dài, Mua vui cũng được một vài ...”  phút giây !

Thân Trọng An
15 tháng 6 năm 2008
Nguyễn Thanh Long



Sau khi tốt nghiệp chuyên khoa Nhi khoa tại Hoa Kỳ, Bác sĩ Trịnh Thị Minh Hà trở về Việt Nam vào năm 1969. Bác sĩ Hà tham gia vào ban giảng huấn trường Đại học Y Khoa Sài Gòn, ngành Nhi Khoa và chăm sóc bịnh nhân tại lầu Hai A, Bịnh viện Nhi Đồng, số 2 Đường Sư Vạn Hạnh,Sài Gòn.
Tại bịnh viện bác sĩ Hà cũng phụ trách hướng dẫn và giảng dạy các sinh viên y khoa thực tập tại đây từ năm thứ ba đến nội trú, thường trú. Bà trị nhiều nhứt là các bịnh về tim và phổi. Bà cũng có một phòng mạch tư tại Sài Gòn.
Trong một hoàn cảnh chiến tranh ngày càng khốc liệt, ảnh hưởng sâu đậm đến cuộc sống hằng ngày, trị bịnh cho trẻ em gặp đầy cam go và thử thách. Về phần gia đình thì thiếu tiền bạc, thiếu người lo giúp, thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu sự hiểu biết về y khoa, đẩy đưa các em vào những hoàn cảnh ngặt nghèo. Về phần bịnh viện thì thiếu nhân viên, thuốc men, phương tiện, phòng và giường, tràn ngập bời số bịnh nhân đến từ thành phố và các tỉnh lân cận. Số bịnh nhân lầu hai A thường là gấp đôi số giường, đôi khi hơn nữa.Trong phòng cấp cứu hai ba em nằm chung một giường là thường. Các em mồ côi càng thấy thương tâm hơn nữa. Có một hôm bốn em mồ côi tuổi dưới môt năm, nằm chung một giường, được quấn trong tã của các em, gần như không cục cựa được. Ai nhìn thấy cũng xót xa trong lòng. Bốn em Việt Nam có bốn màu da: một em da bình thường, một em bị bịnh vàng da, một em lai Mỹ trắng, một em lai Mỹ đen.
Có khi xe đò từ vùng lân cận thủ đô chở đến bịnh viện một em thở thoi thóp. Phải ôm em mà chạy vô phòng cấp cứu, chưa kịp lo thủ tục nhập viện.
Phải nói đến những hoàn cảnh khó khăn ở trên chúng ta mới thấy lòng kính phục của mình đối với sự kiên nhẫn, mức chịu đựng và lòng vị tha của các nhân viên, các y tá, các bác sĩ điều trị, cũng như của bác sĩ Hà.
Giáo sư Hà là một phụ nữ rất trầm lặng, kín đáo, ít nói, chỉ thích làm việc. Bà ăn nói nhỏ nhẹ, đi đứng khoan thai, luôn với một nụ cười trầm lặng trên môi. Sau khi tốt nghiệp ở Hoa Kỳ Giáo sư Hà đã đem về một luồng gió mới trong việc trị bịnh, việc giảng dạy các sinh viên thực tập tại lầu hai A, cũng như ở bịnh viện Nhi Đồng.
Tính đến ngày 1 tháng 12 năm 1971, Giáo sư Trinh Thị Minh Hà là một trong chín Giáo sư Diễn Giảng của Đại học Y Khoa Sài Gòn. Sau tháng Tư 1975, Giáo sư Hà vẫn ở lại tiếp tục chăm sóc các bịnh nhân bé nhỏ của mình. Bà vượt biên và đến Hoa Kỳ trong thập niên 80 và định cư tại thành phố New York, Middle Town. Tại đây Bà kết duyên cùng Bác sĩ Huỳnh văn Huởn, cựu Bộ trưởng Bộ Y Tế Việt Nam Cộng Hoà.
Sau đó, Giáo sư Hà dời cư về miền nắng ấm California. Bà tiếp tục hành nghề ở một vài nơi ở tiểu bang  nầy. Lần cuối cùng Bà làm việc ở trại tù San Lorenzi, gần San Francisco. Giáo sư Hà đã qua đời vào đầu thế kỷ thứ 21 tại San Lorenzo.
Thân thế sự nghiệp

Lý Hồng Sen
tháng 8 năm 2000


Thưa anh Lữ Y
Thưa quý vị
Thưa quý hội đoàn

Chúng tôi xin thay mặt một số thân hữu hiện diện và một số thân hữu vắng mặt nơi đây.
Ngày hôm nay chúng em tiễn anh ra đi, một người bạn, một vị đàn anh, một bậc thầy, một quân nhân, một bộ trưởng, một người của quốc gia dân tộc, liêm khiết, chính trực.
Anh sinh ngày 16 tháng 4 năm 1926 tại Sa Đéc, đến nay hưởng thọ 75 tuổi, thất lộc tại bệnh viện Jean Talon, Montreal vào buổi sáng ngày 25 tháng 8 năm 2000 vào lúc 8 giờ 10 phút.
Anh sinh ra trong một gia đình thuộc ngành giáo dục, được trưởng thành trong khuôn khổ đạo đức. Anh đã sống từ lúc trẻ trong tinh thần quốc gia và xã hội, anh còn là một nghệ sĩ vĩ cầm, một võ sinh.
Khi chúng tôi chỉ mới là một học sinh trung học đã được biết anh tại võ đường Hàn Bái.
Từ lúc trẻ, anh đã hoạt động xã hội và có khuynh hướng chính trị, anh đã tham dự cuộc biểu tình đốt chợ Bến Thành cùng trò Ơn, anh đã đứng ra tổ chức Đại nhạc hội để yểm trợ phong trào học sinh.
Khi vào Đại học Y khoa, Anh đã từ sinh viên, giảng huấn viên tại Cơ thể học viện, y sĩ giải phẫu, rồi theo Giáo sư Massias đổi qua Nội khoa.
Học hết năm thứ 5 trường Y khoa, Anh được gọi nhập ngũ, người y sĩ Nhẩy Dù đầu tiên của Việt Nam Cộng Hoà, đã tham dự các cuộc chiến tại miền Bắc và giải ngũ vì bị sưng màng phổi.
Anh tiếp tục học Y khoa và tu nghiệp tại Pháp, trở về Việt Nam làm Giáo sư giảng huấn tại Đại học Y khoa Sàigòn về khoa Huyết học.
Trong những biến cố của đất nước, anh là người mặc dù bị kỳ thị tại Đại học Y khoa, nhưng đã đứng ra làm Bộ trưởng Y tế và Xã hội với tinh thần hoà đồng dân tộc Việt Nam từ năm 1964 đến năm 1969 với chính phủ của thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ.
Là một trí thức thiết tha cho đất nước, anh đã thiết kế kế hoạch cải tổ ngành Y khoa, cùng lúc xây dựng cơ cấu huấn luyện chuyên viên y tế, mở lớp giảng dạy sinh viên Y khoa để xuất ngoại tu nghiệp.
Trong thời gian tại Bộ Y tế và Xã hội, anh đã liên lạc với các quốc gia bạn: Pháp, Mỹ, Nhật, Đại Hàn và Đài Loan, yêu cầu yểm trợ trang bị kiến thiết khuếch trương các bệnh viện và cơ sở huấn luyện.
Vào lúc biến cố Mậu Thân, anh đã là một Bộ trưởng mà còn là một chiến sĩ quốc gia, đã xông xáo lo cho ngành y tế và yểm trợ đắc lực công cuộc xã hội cho đồng bào và dân tộc qua thời buổi “nồi da xáo thịt” do bè lũ cộng sản gây ra.
Sau biến cố Mậu Thân, chính phủ quốc gia Việt Nam đề tặng Bảo quốc Huân chương, nhưng chính anh đã khước từ.
Với tất cả những hy sinh vì dân, vì nước, vì y học, bởi anh là con người liêm khiết, không màng tiền tài, công danh, cho nên khi bước chân ra khỏi chính phủ, anh chỉ vẫn là một giáo sư nghèo, giàu long nhân ái.

Thưa quý vị,

Anh Lữ Y là người ngay thẳng, cương trực, đạo đức, đại trí thức, quân tử, thiết tha yêu nước thương dân, suốt đời làm và nói trung thực ý nghĩa, vì đó mà có thể làm phật long những kẻ thiếu đạo đức, gian manh, chính trị.
Chúng tôi, một đàn em, đã được gần gũi rất nhiều với anh trong khoảng hơn 10 năm nay, 10 năm ẩn dật thanh đạm, gà trống nuôi con, nghiên cứu Kinh dịch ngũ hành, châm cứu, tử vi, bốc phệ. Vào những lúc trà dư tửu hậu, lúc nào anh cũng dậy bảo hướng dẫn tinh thần và thường nói câu “Phải nói cho rành”. Anh cho biết ý kiến, phê bình về mọi phương diện, và còn nói rằng, nếu ai có hỏi thì cứ nói “Trần Lữ Y nói đó”
Anh Lữ Y, chúng em và gia đình mất đi một người ông, một người cha, một người bác, một người anh quý báu, quốc gia dân tộc đã vô cùng thiệt thòi, mất đi một nhân vật mẫu mực, tài ba, đức độ, thương dân, yêu nước. Ngành Y khoa mất đi một bậc thầy khả kính.
Anh Lữ Y ! Để thay mặt cho một số thân hữu hiện diện và một số thân hữu vắng mặt hôm nay, tất cả, với một tấm chân tình ngưỡng mộ, thương mến Anh và đã vô cùng đau đớn xúc động trước sự ra đi bất ngờ của Anh.
Một lần nữa, kính xin Anh cho em được ghi nhớ lời Anh dậy bảo: Sống đạo đức, chân chính, trung thành với tổ quốc, vững vàng lập trường quốc gia để xây dựng dân tộc.
Em xin linh hồn anh Hai được siêu thoát, yên hưởng an lành.

Xin kính chào quý vị
1917-2003

Nguyễn Hữu Nam
Montreál ngày 20 tháng 3 năm 2008

Trước năm 1945, trong thời kỳ mà nước Việt Nam còn là một xứ bảo hộ của Pháp, toàn cõi VN chỉ có một trường đại học Y khoa duy nhất ở Hà Nội, mỗi năm đào tạo khoảng 20 bác sĩ. Năm 1947, khi toàn quốc kháng chiến chống lại sự trở lại xâm lăng của Pháp vào ngày 19 tháng 12 năm 1947, trường Y khoa Hà Nội di tản lên Chiêm Hoá thuộc khu chiến Việt Bắc tiếp tục đào tạo các sinh viên y khoa dưới sự hướng dẫn của bác sĩ Tôn Thất Tùng. Ở Hà Nội, ngay trong vùng chiếm đóng của quân đội Pháp, vài năm sau trường y khoa Hà Nội mới trở lại với giáo sư Pháp Piere Huard làm khoa trưởng. Vì chiến tranh, đa số dân chúng tản cư ra vùng kháng chiến, nên số sinh viên Y rất ít, có thể đếm trên đầu ngón tay. Khoá tôi học bắt đầu vào năm 1952, tương đối đông sinh viên nhất, độ 60 người sau khi đã tốt nghiệp lớp PCB đại học “physique, chimie, biologie”. Lớp trên là khoá của anh Đinh Văn Tùng, Nguyễn Bích Tuyết, Lê Thế Linh… có độ 30, 40 người, lớp trên anh nữa, còn có anh Phạm Hà Thanh, Chuẩn tướng Giám đốc Cục Quân Y Quân Lực Việt Nam cuối cùng, anh Nguyễn Hữu Vị, cựu Chỉ huy trưởng Tổng y viện Cộng Hoà, anh Lưu Thế Tế, anh Nguyễn Quang Huấn, hai anh Tế, Huấn đã ra đi. Anh Nguyễn Văn Ba được tuyển chọn qua Pháp học ngành Nhãn khoa, song anh ở lại Pháp và không ai biết tin anh kể từ đó. Nổi tiếng nhất là anh Trần Kim Tuyến, anh có thêm bằng cử nhân Luật khoa, không trình luận án, không hành nghề Y, song đi vào con đường chính trị, anh từng nổi tiếng một thời với chức vụ Giám đốc Sở nghiên cứu Chính trị Phủ Tổng thống, là một nhân vật với nhiều quyền lực thời đó. Anh đã mất cách đây ít lâu. Tổng cộng chỉ có 6 người. Sau khoá các anh Thanh, Tuyến, Vị, Tế, Ba cũng chỉ có 5 người, đó là các anh Phạm Ngọc Toả, nay ở Pháp, anh Nguyễn Sơn cũng ở Pháp cùng với anh Phạm Văn Bá, có 2 người nữa cùng khoá song ở lại Hà Nội sau 1954 là cặp vợ chồng Trần Văn Sáng và Nguyễn Thị Trúc. Tổng cộng 5 người… Tôi quên không nhắc anh Thái Văn Minh đã mất cách đây vài năm.
Năm 1947, vì tình hình chiến sự, sinh viên miền Nam không ra Bắc học được, nên một trường y khoa được mở tại Saigon, toạ lạc tại căn biệt thự xinh đẹp số 28 đường Trần Quý Cáp, tương đương với trường Albert Sarraut Hà Nội. Biệt thự này có một lịch sử huy hoàng, đó là nơi Hoàng tử Đởm sau này là Vua Minh Mạng ra đời, sở hữu chủ sau cùng là bà Henriette Bùi Quang Chiêu đã nhường cho chính phủ để dùng làm nơi đào tạo các bác sĩ Y khoa cho miền Nam song song với trường y khoa Hà Hội.
Hiệp định Geneve chia đất nước VN làm hai miền, ranh giới là con song Bến Hải. Đa số giáo sư và sinh viên ở Hà Nội di cư vào Nam, chọn tự do, trả lại trường y khoa Hà Nội cho chính phủ cộng sản. Lớp tôi, tất cả đều vô Nam, trừ một người, anh Nguyễn Lã Hỷ ở lại. Lúc đầu, trường y Hà Nội và các sinh viên y được trường y Saigon đón nhận, cho cơ sở văn phòng làm việc với giáo sư Phạm Biểu Tâm làm Khoa trưởng. Chúng tôi đi học và thực tập cùng với các bạn sinh viên miền Nam. Phải đợi tới năm 1955, với sự thành lập của nền Cộng hoà miền Nam, chính quyền Pháp mới trao trả trường y khoa Saigon cho chính quyền VN. Đó là trường y khoa quốc gia đầu tiên của một nước VN hoàn toàn độc lập. Người được bầu làm Khoa trưởng đầu tiên của trường là Giáo sư Phạm Biểu Tâm. Từ nay, chúng tôi hết là sinh viên di tản nữa, chỉ có một danh xưng : Sinh viên Y của trường đại học Y khoa Việt Nam Cộng Hoà. Chương trình vẫn như cũ, nghĩa là theo chương trình Y khoa đại học Paris đã là trường từng đỡ đầu cho trường y khoa Hà Nội. Các bài giảng vẫn dùng Pháp ngữ, song các giáo sư người Pháp dần dần trở về Pháp, ngoại trừ các giáo sư được Giáo sư Khoa trưởng mời ở lại giảng dạy hay mời những giáo sư từ Pháp sang. Việc đào tạo các giáo sư Y rất khó, phải tốt nghiệp Thạc sĩ ở Paris, phải có đủ tước vị Đại học từ ngoại trú các bệnh viện thi vào cuối năm y 2, sau đó thi nội trú đầu năm y thứ 4, rồi chef de clinque. Tôi nhớ trong thời kỳ tôi học y ở trường Hà Nội 2 năm và Saigon 4 năm, chỉ có những vị giáo sư sau đây: Giáo sư Thạc sĩ Phạm Biểu Tâm, Giáo sư Thạc sĩ Trần Quang Đệ, Giáo sư Tâm ở Bắc, Giáo sư Đệ trong Nam, hai Giáo sư Đệ và Tâm đã làm vinh danh cho trường Y Hà Nội và Sài Gòn, bởi lẽ đó là hai bác sĩ đầu tiên của nước Việt Nam đã được văn bằng Thạc sĩ Y khoa rất khó khăn của Pháp. Sau đó, vào khoảng 1953, 4 người Việt Nam nữa đã trúng tuyển kỳ thi Thạc sĩ Y Khoa Đại học Paris. Đó là Giáo sư Nguyễn Hữu, một giáo sư nổi danh về Cơ Thể học và Giải phẫu, không những ở VN mà sau này còn ở Brest nữa trong những năm ông dạy học ở đó. Cùng với Giáo sư Nguyễn Hữu, có Giáo sư Thạc sĩ Đặng Văn Chung môn Nội khoa và Tim mạch. Giáo sư Chung ở lại Hà Nội sau 1954 vì lý do gia đình, ông nổi tiếng ở miền Bắc và trở thành bác sĩ riêng của Hồ Chí Minh và Bộ chính trị Trung Ương đảng. Năm 1999, tôi trở về Hà Nội đúng vào ngày Giáo sư Chung từ trần, tôi có đến chia buồn cùng gia đình vì tôi có học bác sĩ hai năm khi còn ở Hà Nội. Đồng thời với Giáo sư Hữu, Giáo sư Chung, có bác sĩ Vũ Công Hoè, chuyên về Pathologie cũng đậu Thạc sĩ tại Đại học Paris. Cụ Hoè, tai điếc nên chuyên về pathologie. Lúc chúng tôi thi môn của cụ, cụ thường bỏ máy nghe ngoài tai, nên chắc cụ nghe không rõ. Chúng tôi lợi dụng lúc đó, nói thật nhanh, tưởng như thuộc bài lắm. Lúc cụ đeo ống nghe vào thì chỉ hỏi vài câu, nên ái nấy đều qua môn của cụ dễ dàng. Người thứ tư cũng tốt nghiệp Thạc sĩ y khoa là bà Hồ Thị Sáng chuyên về parasitologie. Bà Sáng độc thân, người miền Nam, tôi thấy ít người biết bà. Môn parasitologie rất khó và là mảnh đất cha truyền con nối của gia đình Giáo sư Brumps. Bà Sáng rất nghiêm khắc, trên tôi hai lớp. Môn thi parasitologie có một sinh viên chỉ được điểm 4.5. Điểm được đậu là 5. Giáo sư Tâm đích thân xin bà tăng cho thêm thành 5 để khỏi phải học lại một năm. Giáo sư Sáng nói: Tuỳ anh, anh là Khoa trưởng, anh có toàn quyền. Còn điểm tôi cho không thể thay đổi. Giáo sư Tâm đành chịu. Anh bạn tôi đành học lại một năm mặc dầu lớp chỉ có 5, 6 người. Giáo sư Sáng sau 1954 không vô Nam, bà qua Pháp thi lại bằng Thạc sĩ Parasitologie của Đại học Paris và là Giáo sư Đại học Paris.
Tôi nhắc lại một chút lịch sử của trường Y để các bạn trẻ hiểu biết một chút về trường Y Hà Nội và Saigon. Tất cả chỉ có 6 vị Giáo sư Thạc sĩ: Giáo sư Tâm, Giáo sư Hữu, Giáo sư Đệ, Giáo sư Chung, Giáo sư Hoè và Giáo sư Sáng.
Riêng miền Nam chỉ có Giáo sư Trần Quang Đệ. Trong chương trình học của Y khoa có 3 môn học chính cả về phần lý thuyết lẫn thực hành. Thi viết không qua được 3 môn chính đó coi như phải chuyển ngành học. Thi thực hành, lúc ra trường “examen de Clinique” nếu hỏng một trong ba môn đó, coi như là phải thi lại. Các môn học khác không thấy bắt buộc trong kỳ thi bệnh lý. Đó là môn Giải phẫu, Nội khoa và Sản khoa. Thi lý thuyết, chúng tôi phải qua phần vấn đáp với 3 vị giáo sư của môn đó, cuộc thi kéo dài độ 30 phút. 30 phút tương đối như 3 giờ vì mình phải trả lời tất cả các câu hỏi miệng của 3 vị giáo sư mà không được sửa soạn trước. Thi thực hành phải khám lâm sàng một bệnh nhân trong 20 phút rồi tường trình bệnh lý, cách điều trị với ban giám khảo của ngành mình thi. Tôi nghĩ thể thức thi tốt nghiệp của trường Y Việt Nam khó hơn thi tốt nghiệp ở Canada, bởi vì thi lấy licence ở Canada chỉ cần trả lời một câu cho đúng trong 4 câu được lựa chọn. Không có cảnh thí sinh đối diện trả lời các câu hỏi của giáo sư.
Nếu trong ngành Y, môn giải phẫu được nhiều sinh viên thích chọn để học và hành sau khi ra trường, hai ngành nội và sản ít nổi tiếng hơn, và với tự ái của tuổi trẻ ít sinh viên lựa chọn. Một lẽ nữa, là ít có giáo sư nổi tiếng về hai ngành này. Ngành giải phẫu hấp dẫn với các giáo sư giỏi như Bác sĩ Tâm, Đệ, Chiếu, Ninh, Hoàng. Riêng ngành Sản, lúc học ở Hà Nội, tôi chẳng hề biết ai nổi tiếng về ngành này cả, phải lên năm thứ 3 mói được đi thực tập ở Sản, nên khi tôi vô Sài Gòn, môn Sản đối với tôi hoàn toàn xa lạ. Giáo sư dậy môn Sản ở Hà Nội là Giáo sư Montagné, tôi không rõ ông có bằng cấp gì, song ông dậy rất giỏi, rất đúng sư phạm, nghĩa là bài giảng giản dị, ngắn gọn, ra khỏi lớp là thuộc bài ngay, khỏi phải tra cứu sách vở thêm. Vô Sài Gòn, ông tiếp tục giảng dậy thêm môn Sản và làm việc tại bệnh viện Từ Dũ cùng với Giáo sư Cartoux, Giáo sư Sản của trường Y Sài Gòn. Khi tôi học với Giáo sư Montagné về lâm sàng, ông giảng rất kỹ, thêm vào đó ông đọc thuốc cho chúng tôi viết toa, viết xong phải đưa cho ông coi có đúng và dễ đọc không, bởi thế, chúng tôi lớp người cũ viết toa thuốc tương đối đọc rõ ràng, không làm khó cho các bạn dược sĩ khi soạn thuốc cho bệnh nhân.
Phải đến năm 1955, với sự trở về nước của Giáo sư Trần Đình Đệ, sau khi tốt nghiệp Thạc sĩ Y khoa về ngành Sản phụ khoa ở Paris, người Việt Nam đầu tiên có bằng Thạc sĩ Sản phụ khoa như có một luồng gió mới trong việc giảng dạy và thực hành. Với sự thành lập một trường Y khoa quốc gia đầu tiên trong một nước VN độc lập và dân chủ, các Giáo sư Montagné và Cartoux lần lượt hồi hưu. Giáo sư Trần Đình Đệ đảm nhiệm chức vụ Trưởng ngành Sản phụ khoa của trường Y, ông làm việc tại bệnh viện Từ Dũ, một bệnh viện với 500 giường chuyên về sanh đẻ và phụ khoa, nơi đó là nơi thực tập của sinh viên y từ năm thứ 3 trở lên. Nơi đó cũng là trụ sở của trường Nữ Hộ sinh Quốc gia, các sinh viên trường này được tuyển lựa qua một kỳ thi, ăn ở nội trú trong trường, ở bệnh viện Từ Dũ thực tập tại đó và 3 năm sau tốt nghiệp có quyền mở một bảo sanh viện để làm tư một cách độc lập không phụ thuộc vào chánh phủ.
Giáo sư Trần Đình Đệ sinh năm 1917 tại Huế trong một gia đình quyền quý. Thân phụ là cụ Trần Đình Tùng, Tổng đốc Thanh Hoá. Để nói cho các bạn trẻ rõ: Tổng đốc là một chức vụ hành chánh, là người đứng đầu một tỉnh rất được mọi người qúy trọng. Ông học ở Huế, trường Quốc Học, rồi ra Hà Nội học trường Bưởi. “Lycée du protectorat” một trường trung học nổi tiếng ở miền Bắc. Nên nhớ cả Bắc Việt chỉ có một trường Lycée Việt Nam là trường Bưởi vì tọa lạc ở làng Bưởi. Các tỉnh chỉ có một trường trung học nhỏ còn được gọi là cours primaire superieur – lớp cao đẳng tiểu học dậy từ lớp nhất trung học tới năm đệ tứ - rồi thi tốt nghiệp trung học.
Năm 1934, ông tham dự Concours general de physique de l’Indochine cho học sinh trung học toàn cõi Đông Dương gồm Việt Nam, Lào và Cambodgia. Ông là premier laureat của cuộc thi tuyển lựa đó.
Năm 1936, ông trúng tuyển 2 bằng tú tài Pháp và tú tài bản xứ. Các bạn hỏi tại sao lại có hai bằng tú tài. Thường thi xong trung học, học sinh được thi tú tài gọi là bản xứ “Bac local” dễ hơn, có khi chỉ cần 2 năm học là có thể thi được. Còn thi tú tài Pháp hay “Bac metro” thì khó hơn, nghĩa là phải qua Bac phần I, rồi mới thi Bac II, giống như chương trình bên Pháp vậy. Nếu chỉ có thế rồi lên đại học thì Bac local hay Bac metro có khác gì đâu. Nhưng khi đi làm thì có sự khác nhau. Hai ông thầy tôi ở trường Trung học Bắc Ninh, ông thầy có bằng Bac metro được lương bổng cao hơn và được giám đốc người Pháp nể vì hơn. Bọn học trò nhỏ bé là chúng tôi, chuyên môn đưa tin này nọ, xem ông thầy nào nhiều lương, ông thầy nào nói tiếng Pháp đúng giọng Tây, hay coi xem ông thầy này có mấy bộ complet, có mấy cái cravatte…
Giáo sư Đệ theo học trường Y Hà Nội từ năm 1936 đến năm 1944, ông đậu đầu trong kỳ thi tuyển nội trú các bệnh viện Hà Nội. Nên nhớ thời đó trúng tuyển nội trú là một vinh dự rất lớn cho sinh viên Y. Đó là một concours tuyển lựa rất kỹ, từ kiến thức tới cách ăn mặc, tới giọng nói, tới cách trình bày kiến thức, bởi lẽ làm nội trú vừa được ở gần ông thầy, vừa được thực hành khám bệnh, giải phẫu như một ông thầy, có uy tín với nhân viên và các sinh viên đàn em lớp dưới, lại có tiền phụ cấp tốt, có phòng ở bệnh viện. Đó là con đường dẫn nội trú lên ngành giảng huấn giáo sư sau này. Những sinh viên thường không nội trú, không ngoại trú chỉ có quyền nhìn thôi, không được thực hành nhiều như các ngoại trú hay nội trú. Tôi còn nhớ năm 1953, tôi được dự thính một cuộc thi nội trú các bệnh viện Hà Nội, cuộc chung kết vào lúc nửa đêm, sau phần thi viết là phần vấn đáp, hai thí sinh trình bày bài đã được chỉ định, anh Trần Văn Sáng, người miền Nam rất giỏi và khéo về giải phẫu, anh Phạm Ngọc Toả, người miền Bắc cũng giỏi không kém anh, vừa học y vừa có bằng cử nhân Khoa học. Tới nửa đêm, giáo sư Tâm tuyên bố kết quả, hai người đều đỗ đồng hạng. Cuộc thi thật là hào hứng. Anh Trần Văn Sáng, người Sài Gòn, lại ở lại Hà Nội sau 1954 vì anh thương chị Nguyễn Thị Trúc cùng lớp. Anh Phạm Ngọc Toả vô Nam. Tôi đã từng cùng anh Toả mổ thương binh trong cuộc bình định Ba Cụt ở Cái Các, dưới ánh sáng của một ngọn nến và cái đèn pile. Anh Toả mổ rất giỏi.
Ở Quân y ít lâu, anh giải ngủ, nhận lãnh nhiệm vụ xây cất bệnh viện Trưng Vương cho gia đình binh sĩ quân lực Việt Nam Cộng Hoà, sau đó, dành hết thì giờ cho việc xây dựng bệnh viện Vì Dân nổi tiếng là một bệnh viện tối tân nhất Sài Gòn.
Từ năm 1947-1950, Giáo sư Đệ làm Chef de Clinique tại Maternité Beauchamp, tiền thân của bệnh viện Từ Dũ sau này. Từ năm 1950 đến 1953, ông được học bổng của Ford Foundation đi tu nghiệp tại Hoa Kỳ, tại NYU đại học Nữu Ước với Giáo sư Papanicolaou, nổi tiếng với xét nghiệm Pap Smears còn dùng tới ngày nay, sau đó tại bệnh viện John Hopkins University với Giáo sư Telinde và Eastman. Chính tại đây ông đã học được những phương pháp tân tiến nhất của ngành Sản tại Hoa Kỳ để khi về nước ông đem thực hành những điều đã học được ở Mỹ cho ngành Sản ở miền Nam Việt Nam, trước nay vẫn chịu ảnh hưởng của kiến thức và thực hành theo lề lối của trường phái Pháp, ông cũng tham dự vào việc soạn thảo sách giáo khoa Williams “Text Book of Obstetrics” vẫn được dùng trên khắp thế giới như một tài liệu căn bản về Sản phụ khoa.
Ông là sáng lập viên của trường Cán Sự Y Tế Việt Nam, đào tạo cán bộ phụ tá y sĩ, trình độ cao hơn y tá, vì với dân số miền Nam lúc đó gần 20 triệu người, số bác sĩ còn quá ít không đủ nhu cầu.
Năm 1955, ông tốt nghiệp văn bằng Thạc sĩ đại học Paris “Agrégé des Facultés de Médecine de Paris”, một tước vị đại học rất cao quý, ngay ở Pháp cũng không có nhiều người đỗ được. Sau này có Giáo sư Vũ Thiện Phương của trường Y Sài Gòn cũng tốt nghiệp văn bằng Thạc sĩ y như Giáo sư Đệ làm cho ngành Sản của trường Y khoa nổi tiếng, có thể sánh cùng các ngành Nội hay Giải phẫu. Với tước vị đó, ông đương nhiên là Giáo sư và Trưởng khu Sản khoa trường Y Sài Gòn. Tôi học ông ngay từ lúc ông về nước.
Năm 1958, ông làm Giám đốc bệnh viện Từ Dũ, có trên 500 giường chuyên về Sản phụ khoa, bệnh viện lớn nhất nhì ở Đông Nam Á, mỗi ngày có khoảng từ 150 đến 200 bà tới sanh hay chữa bệnh phụ khoa. Đồng thời, ông làm Giám đốc của trường Nữ Hộ Sinh Quốc Gia đào tạo nhiều thế hệ Nữ Hộ sinh quốc gia với những kiến thức mới mẻ nhất mà ông học được từ Mỹ và Pháp. Năm 1960, ông xây dựng bệnh viện Dung Anh, một bệnh viện tư chuyên về sản phụ lớn nhất và tối tân nhất tại Sài Gòn nằm trên đường Công Lý. Từ năm 1960 đến năm 1963, ông đảm nhiệm chức vụ Bộ trưởng Y tế trong chính phủ Ngô Đình Diệm. Có người cho là vì ông đỡ đẻ cho bà Ngô Đình Nhu sanh đứa con út, nên việc mời ông làm Bộ trưởng như là một tưởng thưởng hay một sự trả ơn. Tôi không nghĩ như thế. Ông là một giáo sư có thực tài. Ông đang tuổi hoạt động, nhiều sáng kiến muốn phục vụ đất nước, cũng như ông đã đem lại một luồng gió mới cho ngành Sản phụ khoa tại trường Y. Sau cuộc đảo chánh tháng 11 của các tướng lãnh, lật đổ chế độ đệ nhất cộng hoà, ông từ bỏ mọi chức vụ, sống ẩn dật tại dưỡng đường Dung Anh, làm chuyên môn cho đến năm 1966, Tổ chức Y tế Thế giới mời ông làm Cố vấn Giáo dục Y khoa tại miền Tây châu Phi. Ông ra đi, trường Y khoa mất một giáo sư lỗi lạc, các sinh viên mất một người thầy có tài. Ông làm việc tại Yaounde, xứ Cameroun, giúp việc xây dựng trường đại học y khoa tại xứ này. Từ năm 1969 đến 1970, ông làm counsultant về giáo dục y của tổ chức Y tế Quốc tế tại Hoa Kỳ.
Trong khoảng thời gian từ 1970 đến 1975, ông là Associate Professor về Sản phụ khoa tại đại học Y ở Virginia Richmond. Trong thời gian này, ông góp phần trong việc hoàn chỉnh kỹ thuật Nội soi (laparoscopic ) cũng như kỹ thuật siêu âm trong việc định bệnh phụ khoa. Cũng tại Virginia, ông khảo cứu tường tận ngành châm cứu rồi mở một phòng mạch chuyên về châm cứu tại Bắc Virginia, sau khi đã giảng dạy từ năm 1976 đến 1978 tại Đại học Howard University School of Medecine tại Washington DC. Ông về hưu năm 1994 sau hơn 50 năm hành nghề y từ Việt Nam tới Phi Châu rồi Mỹ quốc. Ông lập gia đình với bà Đặng Thị Ngọc Anh năm 1943 và có 4 người con cũng hành nghề Y như ông.
Năm 1955, tôi bắt đầu đi thực tập sản khoa tại bệnh viện Từ Dũ, cũng năm đó, ông tốt nghiệp Thạc sĩ tại Paris trở về và làm việc tại bệnh viện Từ Dũ. Ông lúc nào cũng mặc một cái áo blouse mở phía sau lưng. Ông đến bệnh viện rất sớm. Việc đầu tiên của sinh viên chúng tôi là trình sổ thường trực hôm trước, và trình bày từng trường hợp mổ hay sanh khó chờ ông duyệt xét và phê bình. Làm forceps hay dùng vacum để giúp những trường hợp sanh khó phải có indication. Rủi đứa bé sơ sinh bị chết thì người sinh viên làm việc tránh không khỏi bị la rầy. Mổ césarienne cũng phải có lý do chánh đáng. Nhờ những buổi trình bày như vậy, chúng tôi học được rất nhiều về kỹ thuật sinh khó nơi ông. Sau đó, ông lên trại bệnh thăm từng bệnh nhân. Chúng tôi sắp hàng theo ông, ông hỏi từng trường hợp bệnh nhân, đặt câu hỏi với sinh viên, giảng dạy bệnh lý một cách gọn gàng khúc triết, sau đó, ông vô phòng mổ để giải phẫu những cas mổ đã được sắp xếp trước trong chương trình.
Ông bắt buộc mỗi sinh viên đến thực tập ở Từ Dũ phải thực hành đủ 20 cas sinh, trong đó có ít nhất 5, 6 trường hợp con so và phải theo dõi sản phụ từ lúc nhập viện tới lúc sanh xong. Bởi thế tất cả các bác sĩ Việt Nam sau này ra ngoại quốc thực tập hành nghề trở lại, thì môn Sản phụ khoa không bao giờ là vấn đề khó khăn. Bệnh viện St Luc ở Montreal, mỗi 24 giờ có độ một chục người sanh, mỗi năm 2, 3 ngàn sản phụ đã kêu là quá nhiều. So với Từ Dũ, mỗi ngày có từ 100 đến 150 sản phụ đến sanh, trách sao các sinh viên Y Việt Nam đều khéo tay trong việc đỡ đẻ và chăm sóc sản phụ. Không những thành thạo và khéo léo trong việc đỡ đẻ các sản phụ bình thường, sinh viên thực tập tại Từ Dũ cỏn quen thuộc với các thủ thuật khó khăn như sử dụng forceps, đặt vacuum, tiếp sanh thai ngược, nạo thai…Bởi lẽ các sản phụ khoa quá đông, bác sĩ trực không làm sao hết, nên uỷ nhiệm cho các sinh viên làm những thủ thuật khó khăn đó. Lần đầu tiên, tôi giúp một sản phụ sinh đẻ bình thường, tôi được một sinh viên nữ hộ sinh năm thứ 3 tận tình giúp đỡ, chỉ bảo từ đầu tới cuối. Đó là một thiếu nữ miền Nam, trên dưới 20, dịu dàng với đôi mắt huyền, giọng nói miền Nam hiền hoà, song nàng nói tôi không hiểu gì, cũng như tôi nói giọng miền Bắc nàng cũng chẳng hiểu gì. Song đôi mắt nhìn nhau đã có nhiều cảm tình và thông cảm như một duyên tiền định.
Đỡ đẻ xong, chúng tôi cùng ký vào một tờ bệnh lý để hôm sau trình lên Giáo sư Đệ. Có ai ngờ đâu, năm sau, nàng và tôi lại cùng ký tên chung trong tờ hôn thú kết hợp đời tôi với đời nàng cho đến ngày nay.
Trong cuốn hồi ký “Những gì còn nhớ” của bác sĩ Từ Uyên cùng lớp với tôi, ông đã ghi: Qua năm thứ tư học Sản phụ khoa với giáo sư Đệ phải học và hành đúng mức. Ai rớt môn Sản khoa thì chắc chắn là không học bài, không thể đổ thừa cho giáo sư bất công hay ghét mình được.
Ngoài vấn đề chuyên môn, Giáo sư Đệ còn rất chú trọng đến vấn đề đạo đức của người sinh viên y. Sinh viên trường Nữ Hộ Sinh Quốc Gia tuổi trên dưới 20, vừa ngoan vừa hiền, vừa có tài, vừa có sắc. Sinh viên Y làm việc chung với người đẹp trong những đêm dài, nên dễ có những mối tình lãng mạn  nẩy nở giữa các sinh viên nam và nữ. Song phải coi chừng, đã yêu thì phải chung thủy, phải kết hợp đứng đắn. Giáo sư Trần Đình Đệ và bà Giám thị Nguyễn Thị Dong, không bao giờ chấp nhận học trò của mình phải đau khổ hay dang dở trong tình yêu và đã có nhiều cặp thành gia thất và tràn đầy hạnh phúc. Xin kể: Bác sĩ Chuẩn tướng Phạm Hà Thanh – Hương Muội; Bác sĩ Nguyễn Minh Châu – Nga; Bác sĩ Trần Hiếu Thuận – Nhàn; Bác sĩ Nguyễn Đức Tiến – Minh Châu; Bác sĩ Bùi Nghĩa Bỉnh – Quý; Bác sĩ Ngô Kỳ Phong - Diệu Mỹ; Bác sĩ Nguyễn Hữu Nam - Hiệp (Montreal); Bác sĩ Nguyễn Phú Cường - Tuyết Mai (Montreal); Bác sĩ Nguyễn Bá Khôi – Tân (bác sĩ Khôi vừa ra đi hồi tháng 2 năm 2008 tại Toronto).
Việc xây cất một phòng sanh mới tối tân cho bệnh viện Từ Dũ và một nhà 3 tầng có chỗ cho các sản phụ khoa nằm sau khi sanh đẻ một cách thoải mái cũng được thực hiện dưới sự lãnh đạo của Giáo sư Đệ.
Những năm đó, ngoài việc giảng dậy, các sinh viên trường Y và trường Nữ Hộ Sinh, ông còn điều hành bệnh viện tư Dung Anh của ông, ngoài ra ông còn sáng lập ra Journal Club đầu tiên ở Saigon, theo mô hình đã học được từ Hoa Kỳ, nay đem về thực hành tại Saigon. Bữa nói chuyện đầu tiên của Journal Club là đề tài “Kế hoạch hóa gia đình” do Giáo sư Đệ trình bày một quan điểm về Family planning mới thành hình trên thế giới, khởi đầu tại Hoa Kỳ và là một vấn đề rất mới mẻ và xa lạ với xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, vốn rất bảo thủ. Lần cuối cùng ông về thăm quê hương là vào đầu năm 1975. Ông có đến thăm Từ Dũ, đã dùng phương pháp châm cứu làm tê mê một sản phụ sanh khó để tôi làm cesarienne, không cần đến thuốc mê cổ điển vẫn dùng hằng ngày. Cuộc giải phẫu thành công. Tiếc thay, ông không có giờ ở lại Sài Gòn lâu để dạy bảo chúng tôi phương pháp mới mẻ này để đem thực hành. Nhân dịp đó, Ban Giám Đốc có tổ chức một buổi lễ giản dị chào mừng sự trở về chốn cũ, bệnh viện Từ Dũ mà ông đã từng là bác sĩ giám đốc trong nhiều năm, nơi ông đã từng giảng dậy và đào tạo nhiều khóa sinh viên Y và những nữ Hộ sinh thành những chuyên viên lành nghề trong lãnh vực Sản phụ khoa.
Bác sĩ Giám đốc Phạm Trọng đã ngỏ lời chào mừng sự trở về thăm quê hương của Giáo sư Đệ, và nhắc đến sự nhớ công ơn của sinh viên với một người thầy đã đào tạo nhiều thế hệ bác sĩ, đưa ngành sản khoa ngang tầm vóc quốc tế, với công trình xây dựng bệnh viện Từ Dũ thành bệnh viện tối tân nhất nhì vùng Đông Nam Á. Giáo sư Trần Đình Đệ rất cảm động về sự tiếp đón ông, tại quê hương nơi mà ông không bao giờ quên những kỷ niệm, nơi mà ông vì lý do chính trị phải tự ý lưu vong và mong có ngày trở về phục vụ tổ quốc như xưa, nếu hoàn cảnh cho phép. Buổi họp mặt tiếp đón ông thầy cũ có đủ các bác sĩ điều trị ở Từ Dũ, các giáo sư ban Sản phụ trường Y và một số nhân viên, sinh viên và nữ hộ sinh tham dự. Sau đó, bác sĩ Trọng trao cho bác sĩ Đệ một tấm bảng kỷ niệm ghi công ơn bác sĩ Đệ với nhà thương Từ Dũ và với trường Y. Buổi tối hôm đó, các học trò cũ của ông tổ chức một bữa tiệc hàn huyên tiếp đón ông thầy tại nhà hàng Maxim, có rất đông các bác sĩ tham dự.
Lần cuối cùng tôi được gặp ông là nhân dịp Đại hội Y-Nha-Dược toàn thế giới tại San José. Ông lên phát biểu ý kiến và nói với tất cả tấm lòng của một người thầy: “ngày xưa lúc dậy ở trường Y, có thể có lúc các bạn thấy tôi khó khăn và nghiêm khắc, đó chỉ là vì tôi yêu nghề, tôi chỉ muốn các sinh viên Y trở thành những chuyên viên lành nghề và có lương tâm. Mong các bạn hiểu cho.”
Giáo sư Trần Đình Đệ mất ngày 20 tháng 3 năm 2003 vừa đúng 5 năm tại Falls Church, Virginia trong sự tiếc thương của phu nhân, bà Đặng Thị Ngọc Anh và các con 5 người, trong đó 4 người theo ngành Y nối nghiệp cha và 13 người cháu vừa nội vừa ngoại.
Hôm nay, ngồi viết những giòng này, nhân dịp 5 năm ngày giỗ Người, tôi muốn nói lên tấm lòng biết ơn sâu xa của tôi và các bạn khác đối với một người thầy đã tận tâm hướng dẫn chúng tôi trên con đường y khoa, người thầy đã bảo trợ luận án Tiến sĩ của tôi: Essai de traitement du chorio epitheliome avec le Prenan Tol, một thứ thuốc mới phát minh của Giáo sư Bửu Hội tại Paris.
Xin cầu nguyện linh hồn Giáo sư được phiêu diêu miền Cực Lạc.

Giáo sư Ngô Gia Hy

Con mắt có đuôi

Ngô Gia Hy Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

http://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C3%B4_Gia_Hy

Giáo sư Ngô Gia Hy, người thầy của nhiều thế hệ thầy thuốc chúng tôi, lúc đó đã gần tuổi 90, thế nhưng vẫn nhiệt tình chủ trì Hội thảo bàn về một vấn đề thời đại: Rối loạn dương cương. Một lần nọ, ông phone gọi tôi đến nhà họp mặt với một số thân hữu, mà ông gọi là những  “văn nghệ sĩ gia đình” đến thăm ông đang bị bệnh khá nặng, phải truyền nước biển, chích kháng sinh tại nhà. Cứ tưởng ông “liệt giừơng liệt chiếu” nhưng không, ông vẫn ngôì say sưa nghe các bạn trẻ đàn hát, ngâm thơ.
Nào “Em đến thăm anh một chiều mưa”, nào “Người ơi người ở đừng về…” và đặc biệt là bài “Một chút long lanh” do một nữ nghệ sĩ sáng tác, có vẻ như dành riêng để tặng ông. Còn nhớ vài năm trước đó, ông đã nhờ tôi  chọn giúp ông một số bài thơ – chừng 50 bài- trong tập bản thảo của ông để in thành một tập thơ kỷ niệm tuổi 90. Giọng ông sang sảng trong điện thoại, nghe đầy nội lực như một người ở tuổi trung niên có lẽ nhờ nhiều năm ông đã kiên trì rèn luyện khí công. Tôi định tìm lời thoái thác thì ông biết ý bảo không được từ chối, rồi ngay tức khắc đã thấy người nhà ông mang tập bản thảo tới. Thật là một tập thơ thú vị! Ai ngờ ông thầy thuốc chuyên về niệu khoa, chỉ biết mổ xẻ, giảng dạy học trò mà làm thơ dễ thương vậy. Những bài thơ chân chất, thấm đượm tình cảm của ông về gia đình, bè bạn, về những cảnh sống của người dân quê: gieo mạ, đập lúa, tát nước…đến cảnh hạn hán, lụt lội… và những bài thơ về y nghiệp:
Khó thay giữ được lời nguyền
Làm người thầy thuốc mẹ hiền quanh năm
Thương người như thể thương thân
Lấy câu nhân đức phương châm suốt đời.
Nhưng tôi đặc biệt chú ý những bài thơ viết về tình yêu của ông. Trong một bài thơ ông viết:
Thân nhau chung chiếu chung giường
Rượu cần cùng hút cùng chung một vò
Rừng khuya gió thổi phất phơ
Không say men rượu ngẩn ngơ men tình
Làm tôi nhớ đến chuyện “Cuôi ba dùm”, một chuyện đường rừng  rất thú vị của nhà văn Vũ Hạnh,  kể về một tập quán  của một bộ lạc dân tộc thiểu số ngày xưa là khi có khách đến nhà, cô gái rượu của chủ nhà sẽ cùng ăn, cùng ngủ với khách, cùng chung chiếu chung giường với khách, nhưng khách đừng vội tưởng bở, đừng tính chuyện tò te sẽ bị ăn đòn ngay! Không biết thầy tôi hồi còn trẻ, lên hành nghề trên vùng rừng núi Tây Bắc có bị…sao không. Thế nhưng, “chuyện bây giờ mới kể “  đáng kinh ngạc hơn! Ai ngờ cụ già gần 90 tuổi, một bậc trưởng lão trong ngành Y, đạo mạo nghiêm cẩn đến vậy mà có lúc cũng mềm như  miếng “bánh đúc riêu cua”:
Bánh mềm như nụ hôn môi
Canh ngọt như tiếng yêu tôi thì thầm
Cà chua má đỏ môi hồng
Mặn mà đến thế nỗi lòng biết không…
Dĩ nhiên là biết quá, cho nên trong một tập thơ của nữ sĩ  TD tình cờ đọc được bài thơ Gặp Nhau, có lời đề “Tặng Giáo sư NGH” (mà tôi đã xin phép tác giả ghi lại đây):
Gặp nhau ở tuổi muộn màng
Mà sao lòng dạ xốn xang thế này
Già rồi tay vẫn trong tay
Rưng rưng xúc cảm dày dày tương tư…
DSCN2522
Chị TD cười: Anh biết không, giáo sư mặc veston trắng chỉnh tề,  tóc thưa chải mượt, đứng bên cạnh xe đợi tôi …Khi tôi đến, giáo sư liền đưa bó hoa giấu sau lưng ra trao tặng làm tôi rất xúc động như sống lại…60 năm về trước ở đất Hà thành ngàn năm văn vật , nên tôi đã viết tặng giáo sư mấy câu thơ đó. Rồi chị lại cười: Không có gì đâu nghen!
Dĩ nhiên là tôi cũng biết không có gì đâu rồi, vì thật ra thầy tôi là môt người rất mực thuỷ chung. Thầy không yêu thương ai hơn cô. Khi cô mất, mấy năm trước đây, thầy đã viết:
Em đi đâu có đi luôn
Vẫn còn tồn tại như thường trong tôi
Trong khoé mắt những con côi
Nụ cười cháu gái, dáng ngồi cháu trai…
… những câu thơ mộc mạc, chân tình. Trong buổi họp mặt. bỗng ông cao hứng nhắc lại mối tình đầu thuở lên 14 của ông với một cô gái hàng xóm cùng quê Kinh Bắc. Đó là một mối tình câm. Mỗi ngày ông cứ đứng ngẩn ngơ nhìn cô gái đi qua nhà đến nỗi cô…phát hiện được, một hôm đứng lại đọc cho ông nghe mấy câu thơ của Arvers để…chọc quê ông: J’aurais passé près d’elle inapercu, toujours à ses côté mais pourtant solitaire (Hỡi ôi người đó ta đây/ Sao ta thui thủi đêm ngày chiếc thân- Khái Hưng dịch) Mối tình câm đó, mãi 61 năm sau , khi đã được 88 tuổi, ông mới thố lộ khi gặp laị bà ở Canada. Bà cười nói ông đừng nhắc chuyện xưa mà làm gì.
“Tình già” của Phan Khôi thì chỉ có 24 năm sau, “Tình cờ đất khách gặp nhau. Hai mái đầu đều bạc. Nếu chẳng quen lung đố nhìn ra được… tiễn nhau rồi con mắt còn có đuôi…”. Tôi chắc hai người “trẻ vĩnh viễn” này lúc tiễn nhau hẳn con mắt cũng còn có đuôi như thế, dài hơn một chút là khác!.
Ghi chú: GS Ngô Gia Hy sinh năm 1914 tại Hà Nội, tốt nghiệp bác sĩ năm 1948, tu nghiệp tại Pháp (1950-1953) và tại Mỹ (1960). Giáo sư thực thụ, và có thời gian là Khoa trưởng Đại học Y khoa Sài Gòn, từng là chủ nhiệm Bộ môn Niệu tại Đại học Y Dược TPHCM và Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng cán bộ Y tế TP ( nay là Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch ), PCT thường trực Hội Y dựơc học TP, tổng biên tập tờ Thời Sự Y Dựơc Học. Từ năm 1995-2000, ông là Hiệu trưởng Đại học dân lập Hùng Vương. GS Ngô Gia Hy mất ngày 6.10.2004 tại TP.Hồ Chí Minh.
Đỗ Hồng Ngọc

G.S Phạm Biểu Tâm

Phạm Biểu Tâm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Giáo sư Phạm Biểu Tâm (1913-1999) là một bác sĩ y khoa, được xem chuyên gia về phẫu thuật nổi tiếng tại Việt Nam. Ông cũng là một trong những tráng sinh đầu tiên của Hướng đạo Việt Nam trong đoàn Lam Sơn được thành lập vào những năm 1930.

Mục lục

Thân thế

Giáo sư Phạm Biểu Tâm sinh ngày 1 tháng 12 năm 1913 tại Thừa Thiên-Huế. Ông là cháu nội của Tổng binh Phạm Tấn, người Gia Định, được triệu về kinh đô Huế vào năm 1864. Thân phụ của ông là Phạm Hữu Văn, đậu tiến sĩ năm 1913, một trong những kỳ thi cuối cùng của Hán học tại Việt Nam. Tên cụ Phạm Hữu Văn có được khắc vào bia đá tại Văn Miếu Hà NộiVăn Thánh Huế. Cụ làm quan tới chức Bố chánh tỉnh Thanh Hóa, và khi về hưu cụ được thăng hàm Thượng thư.

Thiếu thời

Giáo sư Phạm Biểu Tâm học tiểu học tại Huế, và sau đó học trung học phổ thông tại Vinh. Đến khi học trung học chuyên khoa (Tú tài), ông theo học tại Trường Quốc học HuếTrường Bưởi (Hà Nội).
Năm 1932 ông bắt đầu theo học Trường thuốc tại Hà Nội. Khi đã tốt nghiệp ông tiếp tục làm nội trú bệnh viện trong nhiều năm để học hỏi thêm kinh nghiệm. Năm 1947 ông đệ trình luận án tiến sĩ y khoa với đề tài là "Introduction de la Médecine occidentale en Extrême-Orient" (Sự du nhập của y khoa Tây phương vào các nước miền Viễn đông).
Năm 1948 ông trúng tuyển kỳ thi thạc sĩ y khoa tại Paris, đồng thời với Trần Quang Đệ, một nhà phẫu thuật lừng danh khác của Việt Nam.

Sự nghiệp

Ông trở về nước làm giáo sư giảng dậy tại Trường Đại học Y khoa Hà Nội suốt trong khoảng thời gian từ 1949 đến 1954. Ông cũng kiêm nhiệm chức Giám đốc Bệnh viện Yersin tại Hà Nội. Cũng trong những ngày ấy Quân đội Quốc gia Việt Nam được thành lập, ngành quân y Việt Nam cũng khởi đầu và ông đảm trách chức vụ Phó giám đốc Trường Quân y.
Năm 1954, ông cùng gia đình vào nam và làm Giám đốc Bệnh viện Bình Dân, mới được xây cất xong tại đường Phan Thanh Giản, Sài Gòn. Ông cũng là Trưởng khoa Ngoại tại Bệnh viện Bình Dân.
Ngày 11 tháng 5 năm 1955 Đại học Hỗn hợp Pháp Việt được người Pháp trao trả lại cho Việt Nam. Ông được cử làm khoa trưởng người Việt đầu tiên của Trường Đại học Y Dược (Faculté Mixte de Médecine at Pharmacie).
Năm 1963 ông đã được mời làm Viện trưởng Viện Đại học Sài Gòn nhưng ông đã từ chối, và nhất quyết ở lại với Trường Y khoa để tiếp tục chương trình đã theo đuổi từ nhiều năm. Nhưng đến ngày 31 tháng 1 năm 1967 vì nhiều lý do, ông đã từ nhiệm chức vụ khoa trưởng, và chấm dứt một trọng trách đã đảm nhiệm 12 năm.
Sau năm 1975, ông vẫn ở lại cộng tác với chính quyền mới, tiếp tục giảng dạy trong những điều kiện khó khăn hơn do hoàn cảnh đất nước bị cô lập.

Tuổi già

Năm 1984 ông hồi hưu lúc đó đã hơn 70 tuổi. Năm 1989 ông tới định cư tại Hoa Kỳ. Mặc dầu sức khỏe đã kém đi nhiều, ông vẫn cố gắng tham dự Đại hội San Jose năm 1995 của Hội Quốc tế Y Nha Dược sĩ Việt Nam Tự do. Ông mất ngày 11 tháng 12 năm 1999 tại Hoa Kỳ, hưởng thọ 86 tuổi.

Gia đình và cá tính

Ông kết hôn với bà Công Tằng Tôn Nữ Tuyết Lê vào năm 1944. Hai ông bà có năm người con là Phạm Biểu Chí, Phạm Thị Kim Hoàn, Phạm Biểu Trung, Phạm Thị Kim Liên và Phạm Biểu Tình. Hai ông bà cũng có một dưỡng nữ là Trần Thị Hồng. Toàn thể gia đình hiện nay cư ngụ tại Hoa Kỳ.
Ông sống đời giản dị và thanh bạch, rất hâm mộ môn bóng đá.

Tham khảo

Thứ Bảy, 21 tháng 1, 2012

Năm Mười Tuổi

Năm mười tuổi, một lần Bố đánh,
Con khóc hoài, ấm ức cả một đêm.
Lòng ân hận vì làm Bố giận,
Con nhủ lòng, cố gắng học hành thêm.


Khi lớn lên sẽ anh hùng như Bố,
Nhưng lòng con yếu đuối lắm, Bố ơi!
Bố đã đặt tên con sai rồi đó,
Vì suốt đời cần mãi Bố mà thôi.


Những chuyện vui con thường hay kể,
Để Bố mừng, Bố sống được thêm lâu.
Còn chuyện buồn con âm thầm dấu kỹ,
Sợ Bố buồn, Bố thức trắng đêm thâu.


Từ lúc Bố đi, đời con lận đận,
Nhưng bây giờ không dấu Bố được đâu.
Bố giúp con, cho con nhiều nghị lực,
Và niềm tin còn có phép nhiệm mầu.


Giỗ Bố năm nay, mình con bên xứ lạnh,
Nhớ Đồi Hồng và nắng ấm miền tây.
Mắt nhòa lệ cúi đầu nhìn di ảnh,
Bố như còn hiện diện ở đâu đây....

                        Đỗ Trọng Hùng