Thứ Năm, 6 tháng 2, 2025

Những tư liệu đặc biệt về Trường Đại học Y Khoa Sài Gòn trước năm 1975

 Trường Đại học Y Khoa Sài Gòn trước năm 1975 sở hữu những tài liệu quý về lịch sử y học VN. Đây là nơi đào tạo bác sĩ hàng đầu, với nhiều tư liệu về giáo trình, sách giáo khoa và nghiên cứu y khoa. Các báo cáo và bài nghiên cứu của các giáo sư, bác sĩ nổi tiếng thời đó cũng là những tư liệu quý giá.

Trường Đại học Y khoa Sài Gòn, thường gọi là Y khoa Đại học đường Sài Gòn, có tiền thân là một trường Y Khoa được hành lập từ năm 1947, vốn là một phân hiệu của trường Y khoa Hà Nội (École de Médecine de Hanoi). Đây chính là trường Y Khoa đầu tiên của Đông Dương, được bác sĩ Yersin thành lập và làm hiệu trưởng đầu tiên từ năm 1902 ở Hà Nội, sau đó trở thành một phần của Viện Đại học Đông Dương. Năm 1947, sau khi tái kiểm soát Đông Dương, thực dân Pháp đã thành lập phân viện trường Y Khoa ở Sài Gòn (Faculté mixte de Médecine et de Pharmacie de Hanoi, Section de Saigon), với vị hiệu trưởng đầu tiên là giáo sư C.Massias, trụ sở đặt tại căn villa số 28  đường Testard (Trần Quý Cáp, nay là Võ Văn Tần). Ở cuối bài viết này, chúng tôi sẽ nói chi tiết hơn về căn villa này.

Năm 1955, sau khi Pháp rút khỏi Đông Dương, trường Y Khoa này được chuyển giao về cho chính quyền Quốc Gia Việt Nam, đổi tên trường thành Y Dược Đại học đường, nhưng hầu hết các giáo sư giảng dạy vẫn là những người Pháp, bằng cấp của trường được công nhận tại Pháp.

Ngày 31 tháng 8 năm 1961, Y Dược Đại học đường Sài Gòn cũ được tách làm 2: Y khoa Đại học đường Sài Gòn và Dược khoa Đại học đường Sài Gòn. Ngày 5/1/1962, Dược Khoa Đại học đường chính thức khánh thành trụ sở mới, số 169 Công Lý, vốn là biệt thự cũ của bà chủ đồn điền cao su Souchère thời Pháp (hình bên dưới), nay là Nhà Văn hóa Thiếu nhi thành phố.

Tới năm 1968, trường Dược, lúc này mang tên là Trường Đại học Dược Khoa Sài Gòn) lại chuyển qua trụ sở mới bên thành Cộng Hòa cũ, sát bện cạnh trường Văn Khoa bên đường Đinh Tiên Hoàng – Cường Để.

Quay trở lại với Y Khoa Đại học Đường, vào ngày 12 tháng 8 năm 1962, Ban Nha khoa thuộc Y khoa Đại học đường Sài Gòn lại tách ra thành trường riêng, tên gọi Nha khoa Đại học đường Sài Gòn. Năm 1963, Nha Khoa Đại học đường chuyển về trụ sở ở Chợ Lớn, số 652 Nguyễn Trãi (nay là Bệnh viện Răng Hàm Mặt).

Như vậy từ một trường ban đầu, Y Được Đại học đường đã tách thành 3 trường, hoạt động độc lập và cùng trực thuộc Viện Đại học Sài Gòn. Đó là: Y khoa Đại học đường Sài Gòn – Dược khoa Đại học đường Sài Gòn – Nha khoa Đại học đường Sài Gòn.

Cũng từ lúc này, các giáo sư người Pháp lần lượt giải nhiệm và ban giảng huấn chuyển qua tay người Việt. Năm 1962 là năm cuối cùng bằng Bác sĩ Y khoa của Viện Đại học Sài Gòn được công nhận tại Pháp.

Năm 1961, để làm trụ sở mới cho 2 trường Y Khoa và Nha Khoa, tổng thống Ngô Đình Diệm đã quyết định cho nghiên cứu một đề án xây dựng cơ sở mới bên Chợ Lớn, được gọi là Trung tâm giáo dục Y Khoa thuộc Viện Đại học Sài Gòn, nằm trên nền cũ của Dinh Đốc Lý thành phố Chợ Lớn, giữa 4 con đường Nguyễn Trãi, Hồng Bằng, Phù Đổng Thiên Vương và Tản Đà.

Dinh Đốc Lý Chợ Lớn, vị trí sau này là nơi xây dựng Trung tâm Giáo dục Y Khoa – trường Đại học Y Khoa Sài Gòn

Dinh Đốc Lý Chợ Lớn cũng từng được gọi là Dinh Xã Tây (khác với Dinh Xã Tây Sài Gòn), nên ngay bên cạnh khu này vẫn còn một ngôi chợ mang tên là chợ Xã Tây.

3 khối nhà màu trắng là Trung tâm giáo dục Y Khoa, nằm bên cạnh Nhà thờ Thánh nữ Jeanne d’Arc

Người phụ trách thiết kế và xây dựng Trung tâm Giáo dục Y Khoa này chính là kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, hợp tác với công ty xây dựng Hoa Kỳ.

Lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng Trung tâm Giáo dục Y khoa diễn ra vào ngày 9/5/1963, với sự có mặt của tất cả những nhà lãnh đạo cao nhất: Tổng thống Ngô Đình Diệm, phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ, Chủ tịch quốc hội Trương Vĩnh Lệ, Chủ tịch Viện Bảo Hiến Đinh Văn Huân, Tổng tham mưu trưởng quân đội là Đại tướng Lê Văn Tỵ, Bộ trưởng Quốc gia Giáo Dục Nguyễn Quang Trình, Khoa trưởng Y Khoa Đại học dường Phạm Biểu Tâm, Đại sứ Hoa Kỳ là Fredericj E. Nolting.

Bản vẽ Trung tâm giáo dục y Khoa của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ

Sau những bài phát biểu của tổng thống, bộ trưởng, khoa trưởng và Đại sứ Hoa Kỳ, các quan khách có mặt đã đi thăm phòng triển lãm những họa đồ và mô hình của Trung tâm Giáo dục Y khoa.

KTS Ngô Viết Thụ (bên phải) đang trình bày với tổng thống Ngô Đình Diệm về đồ án xây dựng trung tâm giáo dục y khoa,

Tờ Văn Hóa Nguyệt San của Bộ Quốc gia Giáo Dục xuất bản tháng 5/1963 đưa tin: Vài chi-tiết về dự-án xây cất Trung-tâm Giáo-dục Y-khoa.

Trung-tâm Giáo-dục Y-khoa mà Tổng-Thống vừa đặt viên đá đầu tiên đề xây cất là kết-quả cuộc hợp tác thân hữu giữa hai chính phủ Hoa Kỳ và Việt-Nam. Trung-tâm này sẽ được xây cất trong hai giai đoạn: trước hết là một trường Y-khoa mới để giảng dạy các khoa-học căn-bản, và sau là một bệnh viện thực-hành.

Đồ-án xây cất cũng là kết-quả tốt đẹp của một sự hợp-tác chặt-chẽ giữa các kiến-trúc-sư Mỹ và Việt Nam: một bên là hãng kiến-trúc-sư Mỹ Smith, Hinchman và Grills và một bên là đoàn kiến-trúc-sư Việt-Nam do ông Ngô-Viết-Thụ, khôi-nguyên giải La-Mã, hướng-dẫn.

Bắt đầu từ năm 1961, hai bên đã cộng tác đề thiết-lập đồ-án nói trên.

Khoảng tháng 6 năm 1962, các kiến-trúc-sư Việt và Mỹ đã hoàn-thành đồ án xây cất trường Y-khoa giảng dạy khoa-học căn-bản với đầy-đủ chi-tiết. Toàn bộ trường y-khoa này gồm có những phòng thí-nghiệm về mọi khoa-học căn-bản, những giảng-đường với 200 chỗ ngồi, một đại thính-đường với 450 chỗ ngồi, một thư-viện 300 chỗ ngồi, một quán cà-phê và một bệnh-viện Nha-khoa.

Trung-tâm Giáo-dục Y-khoa dự-định thâu nhận 1,500 sinh-viên Y-khoa và Nha-khoa, như vậy mỗi năm sẽ có độ 200 bác-sĩ y-khoa và 50 nha-sĩ tốt-nghiệp.

Địa-điểm của Trung-tâm do Bộ Quốc-Gia Giáo-Dục lựa chọn là ở Chợ lớn, gần hai bệnh-viện lớn là Hồng-Bàng và Hùng-Vương.

Trung tâm Giáo dục Y Khoa được hoàn thành 1966 với tổng kinh phí xây dựng là 4.5 triệu USD, trong đó một nửa do cơ quan USAID của Hoa Kỳ tài trợ với sự trợ lực của Hội Y khoa Hoa Kỳ (American Medical Association, AMA). Một nửa kinh phú còn lại được góp từ ngân sách quốc gia.

Ngày 16 tháng 11 năm 1966, Y khoa Đại học đường Sài Gòn chính thức chuyển về Trung tâm Giáo dục Y khoa. Trung tâm có cơ sở vật chất tiện nghi, hiện đại, được sử dụng chung cho 2 trường Y khoa và Nha khoa, với 1 đại giảng đường 500 chỗ ngồi, 3 giảng đường với mỗi giảng đường có 300 chỗ ngồi, thư viện và đầy đủ các khu y học cơ sở cùng với các phòng thí nghiệm.

 

Trong buổi lể khởi công xây dựng công trình này, tổng thống Ngô Đình Diệm có bài phát biểu sau đây:

Thưa quý vị.

Tôi hân-hoan đến chủ-tọa lễ đặt viên đá đầu tiên cho Trung-Tâm Giáo-Dục Y-Khoa Sài-gòn.

Dự-án quan-trọng này đã được Chánh-Phủ nghiên-cứu từ lâu, trong khuôn khổ chương-trình khuếch-trương ngành Đại-học, và hôm nay, với sự hợp-tác của Cơ-quan Viện-trợ Hoa-Kỳ, chúng ta bước vào giai-đoạn thực-hiện. Khi hoàn-thành, Việt-Nam sẽ có một Trung-Tâm Giáo-Dục Y-Khoa hoàn-bị, không kém gì những cơ-sở đồng-loại tân-tiến nhất vùng Đông-Nam Á.

Tôi có lời cám ơn nồng-hậu Chính-Phủ Hoa-Kỳ đã giúp cho công trình này một ngân-khoản lớn, và ngợi khen các chuyên viên Mỹ Việt đã cộng-tác chặt-chẽ và hữu-hiệu trong việc thiết-lập các đồ-án.

Sức khỏe của nhân-dân là một yếu-tố căn-bản trong cuộc tranh đấu để thoát khỏi tình trạng chậm tiến. Cho nên, ngay từ ngày chấp-chánh, tôi đã chỉ thị mở-mang các cơ-sở y-tế trong toàn-quốc, đồng-thời khuếch-trương cấp-tốc ngành chuyên-khoa y-dược. Trong chương-trình phát-triển này, một Trường Đại-học Y-Khoa đã được thành-lập tại Huế, ban Dược-Khoa tại Sài-gòn đã được nâng lên hàng một trường đại-học và hôm nay bộ-phận đầu tiên của Trung-Tâm Giáo-Dục Y-Khoa bắt đầu được xây cất tại đây và sẽ được hoàn-tất trong 24 tháng. Ngoài ra, những trường Cán-sự Điều-dưỡng và Nữ Hộ-sinh Quốc-gia cũng đang phát-triển điều- hòa.

Như vậy, trong một tương-lai gần đây, số chuyên-viên y-tế các cấp sẽ không còn thiếu-thốn như hiện nay, và nhất là tại thôn-quê, sức khỏe của đồng-bào sẽ được chăm nom thêm phần chu-đáo.

Sinh-viên Y-Khoa,

Tại đây, các bạn sẽ có một ngôi trường xứng đáng, đầy đủ tiện-nghi để học-hỏi, nghiên-cứu, thực-hành, hầu trở nên những y-sĩ lành nghề. Lành nghề đề phục-ưu cho Dân lộc, để thực-hiện đồng-tiến xã-hội Việt-Nam.

(Theo Văn Hóa Nguyệt San tháng 5-1963)

Một số hình ảnh hiện nay của Trường ĐH Y Dược (cơ sở cũ):

Tính đến 1975, Y Khoa Đại Học Đường Saigon là một trong số 8 Trường (Kiến Trúc, Khoa Học, Luật Khoa, Sư Phạm, Văn Khoa, Y Khoa, Dược Khoa, Nha Khoa) trực thuộc Viện Đại Học Saigon.

  • Lý thuyết và thực tập các môn khoa học cơ bản được triển khai tại nhiều nơi khác nhau, đó là:
  • Môn Vi trùng và Ký sinh trùng học: Viện Pasteur Saigon
  • Môn Sinh hoá học: phòng thí nghiệm Bệnh viện Đô Thành (nay là Bệnh viện Sài Gòn)
  • Môn Mô học và Cơ thể bệnh học (nay gọi là Giải phẫu bệnh học): quân y viện Coste (của quân đội Pháp ở gần Thảo Cầm viên, nay là trường nữ trung học Trưng Vương)
  • Môn Cơ thể học (nay gọi là Giải phẫu học): Bệnh viện Chợ Rẫy.

Các bệnh viện thực tập:

  • Bệnh viện Grall (là bệnh viện đa khoa của người Pháp trước 1975, sau này là Bệnh viện Nhi đồng 2): ban đầu sử dụng tối đa lúc về cơ sở, phòng ốc và giảng viên, những năm sau giảm dần.
  • Bệnh viện Chợ Rẫy: cho các môn Nội, Ngoại, Tai Mũi Họng, Mắt.
  • Bệnh viện Đô Thành (nay là Bệnh viện Sài Gòn): cho các môn Nội, Ngoại, Cấp Cứu, Tai Mũi họng.
  • Bệnh viện Chợ Quán (nay là Bệnh viện Bệnh nhệt đới và Bệnh viện Tâm thần): cho môn bệnh truyền nhiễm và bệnh tâm thần.
  • Bảo sanh viện Từ Dũ (nay là Bệnh viện Phụ Sản Từ Dũ).
  • Viện Bài trừ Hoa liễu (nay là Bệnh viện Da Liễu).

Y khoa Đại học Đường Sài Gòn là nơi lưu trữ nhiều sách báo chuyên môn. Vào thời điểm 1970 thư viện của trường có 7.302 đầu sách tiếng Anh, 4.547 sách tiếng Pháp cùng một số sách tiếng Việt.

Ngoài công việc giảng dạy, các nhân viên giảng huấn còn tích cực tham gia khảo cứu. Rất nhiều bài báo cáo khoa học đã được đăng trên các báo y khoa quốc nội và quốc ngoại, những bài này đã được liệt kê trong hai quyển sách Travaux de Recherche Scientifique I và II của GS Nguyễn Hữu và BS Nguyễn Đức Nguyên. Ngoài ra còn có là quyển sách Bibliographie des Thèses của GS Nguyễn Đức Nguyên, trong đó ghi lại đầy đủ tất cả các luận án đệ trình tại hai trường y khoa Saigon và Hà nội từ khi thành lập tới năm 1972. Từ năm 1957 đến 1975, trường cũng chủ biên một tạp chí y khoa là Acta Medica Vietnamica, xuất bản mỗi 3 tháng một lần, tổng biên tập là GS Phạm Biểu Tâm.

Về đội ngũ giảng viên, Giáo sư của trường lúc ban đầu chỉ có 2 người, nên nhà trường đã dùng khả năng giảng huấn của các bác sĩ Quân y Pháp và các bác sĩ Việt Nam ở Saigon, niên khóa 1948-1949 có tới 10 Giáo Sư trong đó có GS. Massias (Nội Khoa) ở Hà Nội vào và GS. Trần Quang Đệ (Ngoại Khoa) từ Pháp về.

Từ 1960-1963, đội ngũ Giáo Sư nhanh chóng được bổ sung bằng các thầy tốt nghiệp Thạc Sĩ (Agrégé) từ Pháp: GS Ngô Gia Hy (Niệu khoa), GS Trần Anh (Nhân chủng học), GS Nguyễn Văn Út (Da Liễu), GS Bùi Quốc Hương (Thần kinh), GS Nguyễn Ngọc Huy (Tim mạch), GS Lê Xuân Chất (Huyết học), GS Đào Đức Hoành (Ung thư) và GS Nguyễn Huy Can (Cơ thể Bệnh lý).

Từ 1965-1966, những thầy cô đào tạo Tiến Sĩ, Thạc Sĩ từ Hoa Kỳ lần lượt trở về và phong Giáo Sư: Nguyễn Khắc Minh (Gây Mê), Bùi Duy Tâm (Sinh hoá), Nguyễn Ngọc Giệp (Phụ Sản), Vũ Quí Đài (Vi Sinh học) – Đỗ Thị Nhuận (Ký Sinh Trùng học), Đào Hữu Anh (Giải Phẫu Bệnh), Hoàng Tiến Bảo (Chỉnh Trực).

Nguồn cán bộ giảng còn được bổ sung bằng những chuyên viên ở Châu Âu, Bắc Mỹ trở về như BS Nguyễn Thế Minh (Nội Khoa, Pháp), BS Trần Kiêm Thục (Bệnh Tiêu Hóa, Pháp), BS Trần Thế Nghiệp (Quang Tuyến, Pháp), BS Lê Dư Khương (Giải Phẫu, Đức), BS Liễu Thanh Tâm (Quang Tuyến, Pháp), BS Phó Bá Đa (Giải Phẫu, Mỹ), BS. Hoàng Minh Mậu (Tiêu Hóa, Mỹ), Lê thị Tuyết Nga (Nhi khoa, Pháp), BS. Thái văn Kim (Nhi Khoa, Pháp).

Đến niên khóa 1967-1968, tổng số nhân viên giảng huấn là 91, với 16 GS thực thụ, 7 GS diễn giảng, 27 giảng sư, và 41 giảng nghiệm viên.

Hàng năm, nhà trường tổ chức thi tuyển giảng viên từ nguồn Bác sĩ trong nước, những người trúng tuyển như Văn Tần (Ngoại khoa), Võ thành Phụng (Chấn thương chỉnh hình, Phẫu thuật Nhi), Văn Kỳ Chương (Ngoại Khoa), Văn Kỳ Nam (Ngoại Khoa), Nguyễn văn Điền (Chấn thương Chỉnh hình), Lê Kính (Chấn Thương Chỉnh Hình), Đặng Phú Ân (Niệu khoa), Nguyễn Thị Bích Tuyết (Sản Phụ khoa), Trần thị Minh Châu (Sản Phụ khoa), Trần Ngọc Bảo (Nội Khoa), Trần Đình Đôn (Nhi khoa), Nguyễn Bá Duy (Nhi Khoa), Phạm Long Trung (Lao và bệnh Phổi), Bùi Quang Minh (Lao và bệnh Phổi), Nguyễn Ngọc Lĩnh (Truyền Nhiễm), Nguyễn thị Trà Mi (Da Liễu), Lê Sỹ Quang (Sinh Lý), Lê Tiến Văn (Vi Sinh), Nguyễn thị Minh Chí (Vi Sinh), Bồ Kim Khánh (Vi Sinh), Mạnh Xuân Văn (Sinh Hóa), Trần thị Hồng Nhung (Sinh Hóa), Đinh Hải Tùng (Vi Sinh), Mùi Quý Bồng (Ký Sinh học), Đỗ Danh Thụy (Ký Sinh học), Phạm văn Ngà (Giải Phẫu Bệnh), Trần Xuân Mai (Vi Nấm & Ký Sinh Học), Nguyễn Thúy San (Vi Nấm & Ký Sinh Học), Bùi đắc Chí (Mô Phôi), Phùng Hữu Chí (Tiêu Hóa), Hoàng Xuân Chỉnh (Tiêu Hóa), Nguyễn Phú Hiếu (Tiêu Hóa), Đặng Thị Bạch Yến (Tim Mạch), …. Các giảng viên này được qui hoạch để đi du học, bồi dưỡng nghiệp vụ ở Hoa Kỳ và châu Âu. Đội ngũ nhân viên giảng huấn được sắp xếp theo 5 cấp:

Giáo Sư Thực Thụ (Professeur tiltulaire)
Giáo Sư Diễn Giảng (Professeur délégué)
Giáo Sư Ủy Nhiệm (Professeur fonctionnel)
Giảng Sư (Chargée de Cours)
Giảng Nghiệm Trưởng (Assistant chef)
Giảng Nghiệm viên (Assistant)

Những người tốt nghiệp đại học có thời gian học dưới 7 năm (Dược Sĩ, Cử Nhân, Kỹ Sư, …), thi đậu kỳ thi tuyển giảng viên của nhà trường, sẽ được bổ nhiệm Giảng Viên.

Những người tốt nghiệp đại học có thời gian học 7 năm (Bác Sĩ), thi đậu kỳ thi tuyển giảng viên của nhà trường, được bổ nhiệm Giảng Nghiệm Trưởng.

Những người tốt nghiệp Tiến Sĩ , thi đậu kỳ thi tuyển giảng viên của nhà trường, hoặc những Giảng Nghiệm Trưởng có công trình nghiên cứu khoa học và thâm niên giảng dạy, được bổ nhiệm Giảng Sư.

Những Giảng Sư có công trình nghiên cứu khoa học và thâm niên giảng dạy sẽ được bổ nhiệm Giáo Sư Ủy Nhiệm

Những Giáo Sư Ủy Nhiệm có công trình nghiên cứu khoa học và thâm niên giảng dạy sẽ được bổ nhiệm Giáo Sư Diễn Giảng.

Những Giáo Sư Diễn Giảng có công trình nghiên cứu khoa học và thâm niên giảng dạy sẽ được bổ nhiệm Giáo Sư Thực Thụ

Từ Giảng Sư trở lên có quyền hướng dẫn Luận Án và tham gia Hội Đồng chấm Luận Án do Trưởng Khoa bổ nhiệm.

Đến niên khóa 1967-1968, Y Khoa Đại Học Đường Saigon có 91 cán bộ giảng với 16 GS thực thụ, 7 GS diễn giảng, 27 giảng sư, và 41 giảng nghiệm trưởng – giảng nghiệm viên. [5]

Về hệ thống trợ giảng, có các Nghiệm chế viên (préparateur) cho các bộ môn y học cơ sở. Các nghiệm chế viên này được tuyển hàng năm để trợ giảng cho đội ngũ giảng viên. Ứng viên là các sinh viên y khoa năm thứ 4 – 6, phải qua một bài thi viết, một bài thực hành và một bài thuyết trình 5 phút trước Ban Chủ Nhiệm Bộ Môn. Nếu được tuyển dụng và chính thức bổ nhiệm, người này sẽ được hưởng một mức lương tương đương 50% lương một bác sĩ mới ra trường. Công việc chính là chuẩn bị và giảng thực tập cho sinh viên, phụ Giáo Sư tiến hành nghiên cứu khoa học (kết hợp làm Luận Án).

Về Nội trú các bệnh viện (Interne des hopitaux): tại các bộ môn lâm sàng có nhu cầu, nhà trường tổ chức thi tuyển nội trú. Ứng viên là các sinh viên y khoa năm thứ 5, thứ 6, phải qua một bài thi viết GIải Phẫu, Sinh Lý và một bài thuyết trình 5 phút trước Ban Chủ Nhiệm Bộ Môn. Nếu trúng tuyển, ứng viên sẽ chính thức bổ nhiệm và ưu tiên chọn Bộ Môn/Bệnh Viện theo kết quả xếp hạng. Các nội trú vẫn tiếp tục học như các bạn khác trong lớp, phần lớn thời gian của họ là ở bệnh viện để phụ giúp các thầy/cô trong giảng dạy lâm sang và nghiên cứu khoa học (kết hợp làm Luận Án). Khi ra trường, ngoài tước vị Bác Sĩ Y Khoa, họ còn có quyền sử dụng tước vị “Cựu Nội Trú Các Bệnh Viện” trong khi hành nghề.

Ngoài ra, còn có các Nội trú Ủy nhiệm (Interne fonctionnel): sinh viên năm thứ 6, nếu có nhu cầu làm việc như Nội trú, có thể xin Giáo Sư Trưởng Bộ Môn, nếu được chấp thuận, Giám Đốc Bệnh Viện nơi Bộ Môn hợp tác có thể ký quyết định bổ nhiệm, kỳ hạn 6 tháng, có thể tái hạn. Khi ra trường, ngoài tước vị Bác Sĩ Y Khoa, họ không được quyền sử dụng tước vị “Cựu Nội Trú Các Bệnh Viện” trong khi hành nghề.

Niên khóa đầu 1946-1947 chỉ có khoảng 12 người cho tất cả các lớp. Niên khóa 1947-1948 có 32 người. Niên khóa 1948-1949 tăng lên tới trên 80 người.Vào thập niên 1970 Trường Y khoa có 1400 sinh viên theo học và mỗi năm cho ra trường hơn 200 người. Số sinh viên nộp đơn dự tuyển là hơn 5.000 để chiếm 200 chỗ nhập học mỗi năm.

Thời đó ở Việt Nam cũng như ở bên Pháp muốn đậu bằng y khoa bác sĩ phải đậu xong hai phần tú tài (I và II), qua một năm đầu tiên tại Đại Học Khoa Học và 6 năm y khoa. Từ 1954 đến 1962 muốn vào y khoa phải có chứng chỉ PCB (Physique – Chimie – Biologie) rồi ghi danh vào học; từ 1963 đến 1969, nhà trường tuyển sinh từ Tú Tài 2, sau đó gởi sang Đại Học Khoa Học học chứng chỉ APM (Année Pré-Medicine, Dự Bị Y Khoa); từ 1970 đến 1975 đổi từ APM sang SPCN (Science naturelle – Physique – Chimie).

Học trình y khoa là 6 năm theo khuôn mẫu y khoa Pháp. Hai năm đầu học các môn cơ thể học, mô học, sinh hóa học, sinh lý, và triệu chứng học. Năm thứ ba và tư học các môn cơ thể bệnh lý, nội khoa và ngoại khoa. Cũng hai năm này sinh viên bắt đầu đi thực tập ở các bệnh viện. Năm thứ năm và sáu chuyển sang các môn bệnh lý chuyên môn: nhi khoa, sản phụ khoa, tâm thần… và tăng thời gian thực tập ở các bệnh viện. Năm thứ sáu cũng là năm hoàn tất luận án.

Tân bác sĩ Y Khoa Sài Gòn đọc lời thề Hippocrates sau khi nhận văn bằng tốt nghiệp

Văn bằng Tiến Sĩ Y Khoa Quốc Gia được cấp phát sau khi bảo vệ thành công Luận Án trước Hội Đồng do Khoa Trưởng bổ nhiệm.

Sau năm 1975, các trường Đại yojc y Khoa, Dược Khoa, Nha khoa nhập trở lại như thời kỳ trước năm 1961, thành trường Đại học Y Dược TpHCM, vẫn ở trụ sở cũ của Trung tâm Giáo dục Y Khoa trên đường Hồng Bàng. Sát bên cạnh trường xây thêm bệnh viện Đại học Y Dược.

Trụ sở dầu tiên của trường Y Khoa ở Sài Gòn, vốn là nhà riêng của nữ bác sĩ Henriette Bùi Quang Chiêu

Như đã nói tới ở đầu bài viết, từ năm 1947, phân viện của trường Y Dược ban đầu có trụ sở là căn villa số 28 đường Testard, gần góc với đường Barbé (sau năm 1955 đổi là Trần Quý Cáp và Lê Quý Đôn). Đây là tòa nhà có lịch sử rất đặc biệt, vốn thuộc sở hữu của bác sĩ Henriette Bùi Quang Chiêu – nữ bác sĩ đầu tiên của Đông Dương. Bà nhận bằng bác sĩ ở Paris năm 1935, về Sài Gòn và được giao giữ chức Trưởng khoa hộ sinh ở bệnh viện Chợ Lớn (nay là bệnh viện Từ Dũ). Đồng thời, bà cũng mở một dưỡng đường sản phụ khoa ở nhà riêng, chính là căn villa số 28 đường Testard. Sau 1945, do biến loạn lịch sử, dưỡng đường này đóng cửa, tới năm 1947 bà Henriette Bùi Quang Chiêu đã hiến tặng căn biệt thự này cho chính phủ Nam Kỳ Quốc để làm trụ sở của phân viện trường Y Khoa, tiền thân của trường Y Khoa Đại học đường.

Đây là căn biệt thự hai tầng, tầng trên làm văn phòng Khoa Trưởng, phòng Hội Đồng Giáo Sư và cũng là nơi các sinh viên trình luận án – tầng dưới dành cho văn phòng hành chánh, phòng hội và thư viện – đằng sau là khu vườn trống, mấy năm sau xây thêm giảng đường. Hai giảng đường lớn được xây hai bên và 4 giảng đường nhỏ ở giữa xếp theo hình chữ U. Ngoài ra, các phòng thực tập khoa học cơ bản và y học cơ sở của trường nằm rải rác trong Sài Gòn, như Cơ thể học Viện (dùng cho sinh viên thực tập giải phẫu học) ở đường Trần Hoàng Quân (nay là đường Nguyễn Chí Thanh), bệnh viện Sài Gòn (dùng cho sinh viên thực tập hóa học), Viện Pasteur (dùng cho sinh viên thực tập vi sinh và ký sinh học). Một cơ sở riêng cạnh bên Cơ thể học Viện được dùng làm nơi thực tập cho các môn sinh lý, cơ thể bệnh lý (giải phẫu bệnh) và mô học.

Căn nhà số 28 đường Testard (nay là Võ Văn Tần) nằm tại vị trí có vai trò lịch sử quan trọng, nguyên là đất cũ của ngôi chùa Khải Tường, là nơi mà bà Trần Thị Đang (sau là Thuận Thiên Cao Hoàng hậu) sinh ra Nguyễn Phúc Đảm (về sau là vua Minh Mạng), sau bị thực dân Pháp dẹp bỏ để xây trường tạm (tiền thân của trường Chasseloup Laubat – Lê Quý Đôn trước khi xây trụ sở chỗ ngày nay). Vị trí này được xây căn villa dành cho quan chức, sau được gia đình Bùi Quang Chiêu mua lại. Từ năm 1947, căn villa này trở thành trường Y Khoa, tới năm 1966 thì Y Khoa Đại học đường xây trụ sở mới lớn hơn bên Chợ Lớn (là Trung tâm Giáo dục Y khoa như đã trình bày ở trên), căn villa này trở thành nơi ở của các cố vấn quân sự Mỹ. Ngày nay villa đã không còn, thay vào đó là Bảo tàng chứng tích chiến tranh.

Xin chân thành cảm ơn bạn đã đọc bài viết. Hy vọng thông tin về tư liệu về Trường Đại học Y Khoa Sài Gòn trước năm 1975 sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về lịch sử và phát triển của trường này trong quá khứ. Nếu có thông tin hay bài viết nào khác cần hỗ trợ, đừng ngần ngại để lại câu hỏi. Chúc bạn một ngày tốt lành!

Nghĩ về trường Y Khoa Đại Học Sàigon: Còn gì để nhớ?

 

BS Trần Xuân Ninh

March 6, 2018

Trường đại học Y khoa Sàigòn đến 20 tuổi thì chấm dứt hoạt động, do biến cố 30 tháng 4/1975. Tính theo con số, thì ban giảng huấn đếm trên đầu ngón tay, đào tạo được chừng 2300 bác sĩ. Chẳng đáng là bao nhiêu, so với nhiều trường y khoa khác, về mặt y thuật, cũng như y nghiệp. Nhưng trường Y khoa đại học Sàigòn có nhiều điều đáng nói, nhiều điều để nói.

Tôi vào trường y khoa năm 1957. Ở biệt thự số 28 đường Trần Quý Cáp. Tòa nhà chính dùng làm văn phòng và thư viện.  Sân phía sau xây thêm hai giảng đường M1, M2, trang bị gồm một cái bảng mầu xanh lá cây sậm  chiếm gần hết bề ngang giảng đường, và hai hộp phấn trắng phấn mầu cho các giáo sư xử dụng với miếng bọt biển thấm ướt để xóa. Sinh viên thì mỗi người một cái ghế có tấm bảng nhỏ có thể dựng lên để kê tay viết và hạ xuống để ra khỏi ghế. Lại có cả máy chiếu các dương bản. Tôi không khỏi hãnh diện tự nhủ đại học y khoa có khác, so với trường trung học Chu  Văn An của tôi trong lớp chỉ có bảng đen nhỏ bằng non nửa tấm bảng xanh ở đây và vài cục phấn trắng với chiếc khăn lau bảng bụi mù. Điều làm tôi nể nhất trong buổi học cơ thể học đầu tiên với giáo sư Nguyễn Hữu là những hình vẽ thật đẹp, thật rõ ràng, cùng với bài giảng tiếng Pháp tuôn ra như nước chẩy, không có gì là khó hiểu đối với tôi là một học sinh trường Việt chính cống. Giáo sư Hữu có lối đùa cợt làm mọi người thích thú. Đặc biệt, ông đã làm tôi ngạc nhiên xúc động khi trong buổi học đầu tiên ông nói trường Y khoa là như một gia đình, người đi trước là anh dẫn giắt người đi sau là em học tập. Gọi nhau là anh em. Và ông hành xử như thế thực.  Tôi xúc động bởi vì khi còn ở trung học thì thầy giáo và học trò là thầy và con, khoảng cách là sự sợ sệt.  Trong một năm học PCB dự bị y khoa ở trường đại học khoa học thì giảng đường rộng lớn chứa cả mấy trăm người ngồi theo từng cấp từ cao xuống thấp. Đa số giáo sư vào bục giảng xa tít mù tắp, sinh viên ngồi trên xa nhìn không rõ mặt. Phần lớn lạnh lùng đọc bài giảng, lạnh lùng đi ra.

Tôi chưa bao giờ gần gạnh học hỏi với giáo sư Hữu, ngoài những giờ cơ thể học và một số giờ thực tập ít ỏi môn giải phẫu cơ thể (anatomie opératoire) để trong đúng vài nhát dao phải chinh xác đi vào tới mạch máu, khớp xương…Thực tập bệnh viện Bình Dân mà chưa từng bao giờ phụ mổ với ông.  Nhưng khi học xong giải phẫu tiểu nhi trên đường về nước qua Pháp, tôi viết thư xin phép được đến thăm giáo sư. Thì ông đã hẹn đến căn phòng nhỏ ông ở, gần ga xe điện ngầm Mouton-Duvernet Paris, ân cần nói đủ chuyện và giữ tôi lại, đích thân làm bữa trưa, cho tôi cùng ăn với ông! Tôi không nhớ ăn gì nhưng tôi nhớ là tôi rưng rưng cảm động.

Trái sang phải=Gs Trần Ngọc Ninh, Gs Trịnh Văn Tuất, Gs Trần Vỹ, Gs Caubet, Gs Phạm Biểu Tâm, Gs Huard, Gs Trần Đình Đệ, Gs Nguyễn Đình Cát, Gs Nguyễn Hữu, ... 

Trái sang phải=Gs Trần Ngọc Ninh, Gs Trịnh Văn Tuất, Gs Trần Vỹ, Gs Caubet, Gs Phạm Biểu Tâm, Gs Huard, Gs Trần Đình Đệ, Gs Nguyễn Đình Cát, Gs Nguyễn Hữu, ...

 

Khi nói đến trường y khoa đại học Sài gòn, thì những người thuộc các lớp đầu tiên không ai không nghĩ ngay đến những tên tuổi nổi bật là Phạm biểu Tâm, Nguyễn Hữu, Trần Ngọc Ninh khu giải phẫu B bệnh viện Bình Dân và giáo sư Trần Quang Đệ, Đặng Văn Chiếu, Nguyễn phước Đại, Thái Minh Bạch khu giải phẫu A, bệnh viện Chợ Rẫy.

Giáo sư Phạm biểu Tâm nổi tiếng là một nhà mô phạm, đạo đức, ở trong và ngoài y giới. Tôi chỉ đứng phụ mổ giáo sư vài lần ở vị trí thứ hai sau nội trú nổi tiếng Bùi Mộng Hùng. Như thế không đủ khả năng nhận xét giáo sư về khía cạnh chuyên môn, cho nên tôi chỉ có thể nói rằng về mặt con người giáo sư Phạm biểu Tâm là một kẻ sĩ. Với cung cách ung dung, tự trọng. Trong một buổi họp trí thức chuyên gia ở Sàigon  cuối năm 1977 đầu 1978 gì đó, mà ban giám đốc bệnh viện Nhi đồng cử tôi đi và coi như là một vinh dự cho tôi vì có Võ Nguyên Giáp chủ tọa, giáo sư Phạm Biểu Tâm là một thuyết trình viên. Ông đã đọc bài tham luận về y khoa, rất chuyên môn, rất vừa phải, rất đúng thực, không có những xưng dương nịnh nọt ca tụng chế độ mọi mặt như những giáo sư, trí thức khác hôm đó.

Từ buổi đầu gặp gỡ, ấn tượng của tôi về Giáo sư Trần Quang Đệ là một ông Tây con: Người cao lớn trắng trẻo, giọng rổn rảng, lúc nào cũng nói tiếng Tây. Điều tôi nhớ nơi ông không phải là những bài bệnh lý giải phẫu đầy đủ, chi tiết, rành mạch như trong những sách luyện thi nội trú. Mà nhớ vào năm thứ nhất  trong đợt thực tập bệnh viện đầu tiên  ở khu giải phẫu A bệnh viện Chợ Rẫy, khi đi theo nghe ông trong những buổi khám bệnh, ông đã thuyết giảng rằng người bác  sĩ phải có originalité (tính độc đáo), personalité (tư cách), dignité (phẩm giá). Ông đã so sánh lòng thương của người áo trắng trước khổ nạn của bệnh nhân nó tiềm ẩn như sợi nước tĩnh lặng ở đáy giòng suối mùa đông đóng băng nhưng đến mùa xuân thì sợi nước đó làm tan băng để cuồn cuộn chảy ra sông ra biển. Những điều ông nói ra như vậy theo tôi nghĩ không phải chi có một lần, trước nhóm 6 sinh viên gồm 4 người năm thứ hai và hai người năm thứ nhất trong đó có tôi, mà là nhiều lần cho nhiều nhóm sinh viên. Nhưng có lẽ không mấy người nhớ. Vì tâm ý của đa số sinh viên là hướng về bệnh lý mà chú tâm. Còn tôi thì nhớ vì cuộc sống đã khiến đầu óc nghi ngờ soi mói, cho rằng đó chỉ là hình ảnh lý thuyết không có trong cuộc đời. Chính vì thế, mà khi đã định cư ở Hoa kỳ sau khi sống sót chuyến vượt biển tị nạn, tôi mới có được nỗi ngạc nhiên sung sướng thấy rằng giáo sư Trần Quang Đệ mà tôi nghĩ là một ông Tây con, đã xử sự trên cái nền dân tộc, theo tinh thần những điều ông nói ra mà tôi được nghe, cách đây hơn nửa thế kỷ: cung cách rất độc đáo, rất tư cách, có phẩm giá. Và tình cảm thâm trầm như sợi nước đáy con suối mùa đông. Tất cả đã biểu lộ qua những buổi tham dự với các sinh hoạt của các hội y sĩ tị nạn cũng như trò chuyện với một số bác sĩ bạn tôi.  

hinh co Gd Tran Quang Deed.jpg

Giáo sư Đặng Văn Chiếu, ở khu giải phẫu A, và sau đó ở vị trí khoa trưởng đã luôn luôn từ tốn thanh thản một cách tự nhiên, khó thấy, ngay cả nơi những nhà tu. Bác sĩ Thái Minh Bạch trưởng khu giải phẫu tiểu nhi bệnh viện Chợ Rẫy lúc nào cũng tươi cười đầy vẻ dễ dãi của một sinh viên con nhà khá giả.

Hình ảnh đầu tiên còn lại trong tôi về bác sĩ Nguyễn phước Đại là một người đen đủi, mặc áo may ô đeo cái miếng plastic trắng ra ngoài chiếc quần dài kaki đứng rửa tay mổ, ăn nói ồn ào, làm tôi bụng nghĩ thầm không hiểu người y công nào mà lại nói tiếng tây như vậy. Nhưng chính ông là người chỉ trong hai tuần tôi đi qua khu tiết niệu thực tập đã dậy cho biết từng nguyên tắc, từng động tác của đủ các kỹ thuật  để thông, để nong đường tiểu với các loại dụng cụ mà lúc sang Mỹ thấy rằng nhiều bác sĩ Mỹ tiết niệu làm lóng nga lóng ngóng, nặng tay.

Giáo sư Trần đình Đệ tuy có người nói là tác phong quan cách, nhưng đã đưa ra được một số tiêu chuẩn rõ ràng để phát triển cho ngành sản phụ khoa và nữ hộ sinh “công chức” từ thời Tây để lại, mà bác sĩ Nguyễn Bích Tuyết là cột mốc để mọi người dòm chừng, không dám vượt qua cho tới khi VC vào chiếm nhà thương Từ Dũ.

Dù nhân số có thể đếm trên đầu ngón tay, và không thể điểm hết ở đây vì thời gian giới hạn, nhưng đứng về mặt y thuật mà xét, ban giảng huấn y khoa đại học Sàigòn có thể nói là đủ hay dư hiểu biết về chuyên khoa của mình để hướng dẫn sinh viên. Chỉ xin đơn cử một trường hợp. Thời tôi học y khoa, và trước khi có sự tham gia giúp đỡ của hội y sĩ Hoa kỳ (American Medical Association) vận động được sự hợp tác của nhiều trường Y khoa đại học Mỹ để đổi mới và cải thiện phương cách huấn luyện y học tại Việt nam, các chuyên khoa thường không được chú trọng và thu hút nhiều sinh viên theo học. Như Ngoài Da, Nhãn khoa, Tai Mũi Họng vân vân. Thực thế, không mấy ai thấy gì hấp dẫn khi ngồi sau các bác sĩ Tai Mũi Họng xem các bệnh nhân bị viêm xoang chẩy nước mũi kinh niên, hay thối tai chẩy mủ, hay ung thư sưng lệch một bên cổ. Cũng không mấy ai thấy khu Ngoài Da bệnh viện Bình Dân là có gì đáng học với những bệnh nhân bôi thuốc xanh thuốc đỏ triền miên, và ở những buổi khám bệnh ngoại chẩn là những bệnh nhân bệnh cùi, bệnh giời leo, bệnh tràng nhạc,  các bệnh sần, ngứa, sùi ngoài da chữa mãi không khỏi. Còn giáo sư Nguyễn Văn Út trưởng khoa thì có người xấu miệng đã bất kính xì xào bàn tán đối chiếu cái đầu mũi đỏ của ông với sự bất lực của chuyên khoa Ngoài Da. Một cách thành thực, cá nhân tôi không nhớ ông Út về điều này. Mà vì câu ông nói trong buổi dậy bệnh lý ngoài da đầu tiên  “La dermatologie, c’est la médecine générale” (Chuyên khoa Ngoài Da là chuyên khoa nội thương). Lúc đó, trong cái tâm trạng coi thường chuyên khoa Ngoài Da bất lực đối với vô số  bệnh ngoài da và sự thiếu hiểu biết về Y khoa, tôi đã nghĩ giáo sư Út nói thế vì mặc cảm, muốn đưa chuyên khoa Ngoài Da lên ngang hàng chuyên khoa Nội thương. Sau nhiều năm thực tập và hành nghề, học hỏi qua đủ ngành do thời thế đưa đẩy, mới hiểu rằng lời giáo sư Út phản ảnh sự hiểu biết sâu sắc về chuyên khoa của ông cũng như về tình trạng Y khoa nói chung  thời đó và ngay cả bây giờ.

Nhìn sang một góc cạnh khác, nếu không có cơ duyên mà biết được hay để ý tới các hoàn cảnh trưởng thành trước khi vào y khoa và những sinh hoạt ngoài trường Y khoa của các thành viên ban giảng huấn, thì không biết rằng ban giảng huấn không chỉ gồm những người thực hành y thuật, phát triển y nghiệp hay diễn giảng y khoa mà đã có nhiều người y sĩ dấn thân, nhưng không ồn ào trừ phi trong hoàn cảnh đặc biệt. Nói khác đi, không chỉ nằm trong khuôn khổ chuyên môn. Tôi chỉ xin kể một vài tên như Ngô Gia Hy, Đào Đức Hoành vân vân…

Hàng trước từ trái qua phải: các Giáo Sư Đào Đức Hoành, Giáo Sư Ngô Gia Hy (chánh chủ khảo với áo choàng đen), Giáo Sư Nguyễn Huy Can và Giáo Sư Đặng Văn Chiếu. Hàng sau từ trái qua phải: Các bác sĩ Lê Mỹ Phượng, Phạm Hữu Trác, Nguyễn Văn Lâm, …

Hàng trước từ trái qua phải: các Giáo Sư Đào Đức Hoành, Giáo Sư Ngô Gia Hy (chánh chủ khảo với áo choàng đen), Giáo Sư Nguyễn Huy Can và Giáo Sư Đặng Văn Chiếu. 
Hàng sau từ trái qua phải: Các bác sĩ Lê Mỹ Phượng, Phạm Hữu Trác, Nguyễn Văn Lâm, Dương Hồng Huấn (áo choàng đen), Nguyễn Hoàng Hải và Trần Gia Khải.

 

*Có mặt ở đây hôm nay là một giáo sư lúc nào tôi cũng coi là người trẻ dù đã trở thành khoa trưởng – vị khoa trưởng cuối cùng của Y khoa đại học Sàigòn - là giáo sư Đào Hữu Anh,  mà  tinh thần gia đình đại học y khoa Sàigòn tôi đã có dịp thâm cảm. Tuy ở trong ban giảng huấn, nhưng tôi chưa từng nói chuyện với giáo sư Anh. Mà giáo sư Anh thì có lẽ chỉ nghe tên tôi chứ không biết mặt, vì tôi chỉ chúi ở bệnh viện Nhi đồng hay Bì nh Dân, chứ không lên văn phòng bởi không có việc gì. Một ngày thượng tuần tháng 4/1975, trong cái không khí bấp bênh lúc đó, tôi đã lên trường tìm gặp giáo sư khoa trường để xin một giấy chứng nhận tiếng Anh cái trách vụ của tôi lúc đó trong trường là giảng sư. Không hỏi tôi xin giấy chứng nhận làm gì, ông đã ngay lập tức cho đánh máy rồi ký đưa cho tôi. Nếu hỏi để làm thì có lẽ tôi cũng  khó trả lời, vì không biết chắc để làm gì*.

Giáo sư Trần ngọc Ninh, người cao tuổi nhất còn lại hiện nay của ban giảng huấn Y khoa đại học Sàigòn thuở ban đầu thành lập, mặc dầu người không khỏe, đang ngồi với chúng ta trong buổi họp mặt này là một trường hợp đặc biệt. Ông là mẫu người ưu tú, thông thái, sản phẩm của quan niệm giáo dục cổ điển Pháp. Ở cương vị giáo sư, ông là người tạo thách thức. Tìm tòi cái mới. Hiểu tinh yếu và áp dụng. Ông không dậy theo cung cách rành rọt, đầy đủ chi tiết như giáo sự Trần Quang Đệ, hay kiểu “phác đồ điều trị” lối VC cho những đầu óc giới hạn. Ông chú trọng đến tinh yếu của những vần đề trình bầy. Chắc các bạn còn nhớ những nguyên tắc vô thương, vô trùng, nguyên tắc sinh học, cơ học, nguyên lý lành mô tự nhiên vân vân mà ông nhắc đi nhắc lại trong các buổi đi khám bệnh. Ông kể chuyện Ambroise Paré nhà giải-phẫu-thợ-cạo Pháp thế kỷ thứ 16 bỏ cách chữa thương do đạn nổ theo lý thuyết cổ truyến là đổ dầu đun sôi vào vết thương để “giải độc” và “đốt cầm máu” (cautériser), cốt là để nói đến tinh thần quan  sát thực nghiệm và thách đố quy ước của Paré. Ông nhắc lời Paré nói “je le pansai Dieu le guérit : Tôi băng (cho bệnh nhân) Trời chữa (khỏi bệnh nhân), để cho thấy khả năng giới hạn của y khoa, và vai trò quan trọng của khả năng tự nhiên chống trả để lành bệnh của con người. Những người nặng niềm tin tôn giáo trong chuyện này sẽ nghĩ đến Trời, đến Chúa. Điều này không sao cả. Nhưng theo tôi nghĩ thì thời nay người ta đang tìm tòi nguyên do sinh bệnh và lành bệnh tự nhiên qua những nghiên cứu chưa đi được bao xa về tế bào, về sinh học phân tử (tuy những chuyện này đã được quảng cáo thổi phồng và khai thác thương mại).

thay-Ninh.jpg

Giáo sư Trần Ngọc Ninh và bác sĩ Đặng Phú Ân.

Giáo sư Ninh ý thức được vai trò của con người ưu tú - trong xã hội. Theo tôi, đó là lý do tại sao ông viết cuốn Nguyễn Du và Đoạn Trường Tân thanh, mà người đọc để ý suy nghĩ một chút sẽ thấy cái thân phận cay đắng của Nguyễn Du và nhiều trí thức khác thời Lê tàn, Trịnh mạt, Tây Sơn bột phát và Nguyễn sơ không khác bao nhiêu thời đại ngày nay. Biết cái phải cái hay nhưng không thể chọn đường nào cho đúng cho tròn. Phủi tay lánh đời vì biết mà làm không được như La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp? Hay là như Ngô thì Nhậm dấn thân một thời để sau cùng cảm khái thốt ra “Thế Chiến quốc, thế Xuân thu. Gặp thời thế thế thời phải thế” trước khi bị hành tội ? Hay là như Nguyễn Du ẩn nhẫn qua ngày để vào cuối đời le lói, chỉ còn vui với cái xúc cảm mang mang một thời, khi gặp lại người đẹp xưa mặc nguyên chiếc áo hồng ngày cũ che mặt hát? Mà viết: “đoạn ngẫu thương tai vị tuyệt ti” – ngó sen đứt rồi còn vương những sợi tơ, trong bài thơ Ngô đệ cựu ca cơ. Câu này đã biến thành “dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng” trong Đoạn trường Tân thanh viết sau chuyến đi sứ Tầu trở về. Trong chuyến đi sứ, Nguyễn Du đã thăm được Phân kinh thạch đài dựng bởi thái tử Lương Chiêu Minh (thế kỷ thứ 6) khi Phật giáo được đẩy mạnh, để thấy rằng chỉ còn cái nền đá, và cây cỏ, không còn lấy một chữ. Do vậy thấm thía cái nguyên lý vô thường, tóm tắt bằng câu kết “Chung tri vô tự thị chân kinh” trong bài thơ tức cảnh Phân kinh thạch đài ( nghĩa là “Sau cùng thì biết rằng kinh chân thực là kinh không có chữ”)

Đến đây, chắc quý bạn cũng như tôi thấy tất cả các thành viên ban giảng huấn Y khoa đại học Sàigòn đều có những độc đáo. Độc đáo không chỉ trong kỹ thuật. Mà còn ở ngoài y thuật và y nghiệp.  Nhưng sinh viên thì ra sao, hay là cái độc đáo này được truyền tới sinh viên ra sao?

*Tôi muốn nói đến một nội trú đàn chị ở khu giải phẫu tiểu nhi bệnh viện Chợ Rẫy, bác sĩ Marguerite Trần (thường gọi là Margot). Bác sĩ Margot là con một bác sĩ giầu có danh tiếng ở Sàigon thời đó. Chỉ nói tiếng Tây giọng Tây (vì thế khởi đầu tôi không có cảm tình, cũng như là đối với giáo sư Trần Quang Đệ). Thấy tôi chăm chỉ lui cui theo chị đi khám bệnh và cái gì cũng hỏi (vì năm thứ nhất đi thực tập bệnh viện chẳng khác gì chim chích lạc vào rừng) chị đã cho tôi tập sách in ronéo luyện thi ngoại trú  của giáo sư Massias chị đã học, giữ rất kỹ và khuyến khích tôi học.  Để trả ơn, tôi đã chờ đến dịp tết mua tập thơ Mây và Say của Vũ Hoàng Chương, đem đến nhà tặng chị. Tôi đã chọn hai quyển thơ này như là một thách đố con người trường Tây. Điều tôi không chờ đợi là chị đã ngồi cùng với tôi bình luận những bài thơ Vũ hoàng Chương đến khuya!  Ra trường, liên lạc chỉ là vào những dịp ngày tư ngày tết. Sau 1975 là bặt tin. Mãi tới cách đây vài năm do cơ duyên gặp lại một bạn thân cùng lớp ra thăm hải ngoại mới hỏi chuyện bạn cũ y khoa Sàigòn và hỏi thăm chị. Khi chị hỏi tôi liệu có tính về thăm Việt Nam thì tôi đã nói không, vì hoàn cảnh không thuận tiện. Chị lại làm tôi ngạc nhiên khi vắn tắt trả lời với câu “thời lại phong tống Đằng Vương Các”, trong chuyện thư sinh 15 tuổi Vương Bột ở thật xa nhưng gặp thời được gió thổi kịp đến lầu Đằng Vương mà phóng bút làm bài phú Đằng Vương Các để đời, vượt xa các văn nhân thi sĩ đã tụ tập tại đó: Người lớn lên trong nền giáo dục Pháp, chỉ nói tiếng Tây, mà bình luận về thơ Vũ Hoàng Chương,  rồi lại biết lai lịch bài phú Đằng vương các của Vương Bột đời Sơ Đường!  Các quý vị có nghĩ là độc đáo không?  Nhưng Margot không phải là bác sĩ độc nhất như thế.  Chắc một số bạn có đọc những bài thơ trên mạng của bác sĩ Huỳnh Anh Shroeder  (dân trường Tây) dễ dàng diễn tả từ cây trái đến tình tự con người đất Việt.  Bác sĩ Anne Capdeville  hành nghề thần kinh tâm trí, vẽ thiên nhiên, mà cũng vẽ hình trang trí  cho một nhà thờ ở Pittsburg, nhưng lúc nhàn dư với bè bạn không quên kể chuyện Việt Nam xưa mẹ dậy con gái phải chừng mực đằm thắm, không dễ dãi buông thả vân vân…*.

Tôi cũng muốn kể một trường hợp cá nhân khác là bác sĩ Đỗ Như Hồng. Tôi không thường giao du tiếp xúc, ngoài một vài trao đổi trong các cuộc hội họp y sĩ. Nhưng  khi có một phụ nữ hoạt động tôi biết không có bảo hiểm y tế cần được khám sức khỏe và thử nghiệm máu, tôi từ xa liên lạc nói chuyện với bác sĩ Hồng nhờ giúp đỡ hy vọng được hưởng  giá tối thiểu. Thì bác sĩ Hồng đã tận tình giúp đỡ cho đương sự không tốn phí, cho luôn tiền thử máu*

Trong cái tâm thức chung của sinh viên, tôi còn nhớ sau biến cố 1 tháng 11/63, tại giảng đường M1, trong buổi trình bày vận động các sinh viên làm một tờ báo y khoa, đã có sự tham dự của đông đảo sinh viên mà đa số là từ năm thứ ba lúc đó trở lên. Sau khi thấy rằng đúng là cần có một tờ báo, nhiều tên đã được đưa ra, nhưng hai chữ Tình Thương đã được chấp nhận. Từ đó ra đời nguyệt san Tình thương liên tục nhiều năm, nhờ sự đóng góp bài vở, tình nguyện đi xin quảng cáo của các sinh viên dấn thân. Cho tới khi tình hình thay đổi, tâm thức con người thay đổi, dầu tinh thần gia đình y khoa vẫn còn. Thực thế, sau tháng tư 1975, tinh thần này biểu hiện ra cụ thể ở Canada qua bác sĩ Phạm Hữu Trác, với sự tích cực hỗ trợ của đàn anh Nguyễn Tấn Hồng người đã từng mấy lần làm bộ trưởng, sống và hành xử với quan niệm tương thân tương trợ, giúp nhau từng chai nước mắm, khuyến khích nhau học lại thi lại. Hội Y sĩ Canada đã ra đời trong hoàn cảnh như thế, với Tập san Y sĩ Canada đều đặn xuất hiện định kỳ, mà bền bỉ đóng góp từ tài chính tới nội dung là một số các anh chị em đã làm nguyệt san Tình Thương cũ cùng với nhiều anh chị em Y khoa Sàigòn khác ở khắp hải ngoại. Lai rai tiếp tục tới nay, tuy không tránh khỏi nét già nua. Nhưng mà đáng nói hơn cả, theo tôi, là hội Y sĩ Canada đã tổ chức được một đại hội  ở Montreal quy tụ đông đảo anh chị em bác sĩ đại học y khoa Sàigon tứ tán nhiều nơi trên thế giới, mà tôi nhớ là có giáo sư Trần Quang Đệ từ Pháp sang họp mặt. Để sau những bất đồng tranh cãi kéo dài, đã thành lập được hội Quốc tế Y sĩ Việt nam Tự do với lập trường không né tránh chính trị, có quan điểm chính trị rõ ràng không chấp nhận chế độ VC. Với sự kiện này, gia đình Y khoa đại học Sàigòn đã dấn thân hòa vào gia đình lớn là dân tộc, nghĩa là không chỉ cứu nhân độ thế bằng y khoa, mà trong các mặt cuộc sống, tuy rằng con người kỹ thuật và chú trọng với y nghiệp là đa số. Đây là một quan điểm rất mới so với các hội kỹ thuật hay ái hữu trong cộng đồng Việt nam hải ngoại, cho tới ngày nay.

Trường Y khoa đại học Sàgòn không còn nữa, do biến cố 30 tháng 4/1975 VC chiếm được miền Nam. Những đóng góp về mặt y thuật của các bác sĩ Y khoa Sàigòn không thể nhiều vì tổng số các bác sĩ không nhiều, nhưng không thua các bác sĩ khác. Trong các xã hội tư bản, coi các bác sĩ là các nhà cung cấp dịch vụ (provider), nhiều bác sĩ Y khoa đại học Sài gòn đủ khả năng khai dụng y thuật để làm chủ những y nghiệp giầu có.

Cái độc đáo của trường Y khoa đại học Sàigon như thoáng lược ở trên không chỉ ở từng người, sinh viên cũng như ban giảng huấn,  mà ở trong cái tâm thức gia đình, Gia Đình Y Khoa - không vì cảm tính bo bo mầu cờ sắc áo hay địa phương. Không chỉ  cứu nhân độ thế qua xử dụng thuốc và thuật, nhưng với Tình Thương rộng lớn san xẻ  chúng ta đã thấy qua lập trường thành lập hội Quốc Tế Y sĩ Việt Nam Tự do. Bởi vì trước khi là bác sĩ mỗi chúng ta đã và còn là người Việt Nam, trong nhãn quan toàn diện y khoa (holistic) của một con người thực-là-bác-sĩ. Trên cái nền chung này, tuy không gần mà vẫn thân, tuy xa mà vẫn không sơ. Xin tham lam mở ngoặc nói thêm một trường hợp điển hình là bác sĩ Vũ Thị Thoa ở Paris, tuy đã lớn tuổi và không liên lạc di chuyển nhiều, nhưng vẫn được các anh chị em Tập san Y sĩ Canada chị chị em em nhắc nhở trao đổi. Người nào có dịp sang Pháp thì ghé tới thăm.

bác sĩ Vũ Thị Thoa ở Paris

bác sĩ Vũ Thị Thoa ở Paris

Mô tả vắn tắt, có thể tạm gọi là tinh thần Y Đạo. Mà mục đích tối hậu là giúp cho con người có bệnh cũng như không bệnh Thân Tâm An Lạc. Trong đó có mình.

Trần Xuân Ninh

Ngày 18 tháng 2/2018

Mưỡu hậu

Nội dung bài này đã được soạn để trình bày trong buổi họp mặt của các bác sĩ Y khoa đại học Sàigon ngày mồng 3 Tết Mậu Tuất tại Orange County California.  Vì thời gian giới hạn là 10 phút, một số đoạn (*…*)  và một vài câu lẻ nói về các chi tiết đã phải bỏ tại chỗ, nhưng vẫn qúa giờ,  vì nói thuận miệng mà không đọc theo bài, và ban tổ chức thông cảm, không cắt micro. Có lẽ vì giáo sư Đào hữu Anh mở đầu đã nói rất ngắn, và cũng có lẽ vì một vị khác dự tính là phát biểu nhưng đã không nói cho nên toàn bộ phần phát biểu không quá thời gian ấn định. Tại chỗ, sau khi chấm dứt, người trình bày đã cảm ơn  ban tổ chức cho sống lại những giây phút thách đố hứng thú khi vào thi vấn đáp nội trú cách đây nửa thế kỷ, phải làm sao gói tròn những điều hội đồng chấm thi muốn nghe  trong thời gian vài phút phù du, tránh cảnh  các giám khảo bỏ bút xuống, nhổ râu cằm.

Cuối buổi họp mặt, một vài anh chị em trong ban tổ chức đã yêu cầu gửi cho bài viết để phổ biến. Cho nên mới có bài này hoàn chỉnh với những hình ảnh bè bạn trong đó có bác sĩ Đặng phú Ân cung cấp mà không thể chiếu lên trong buổi họp mặt, vì không có giờ.

Sau chót, trong hình giáo sư Trần Quang Đệ chụp cùng môn sinh bệnh viện Chợ Rấy quý vị nào nhận ra tên các sinh viên đứng ở hàng sau xin cho người viết biết. Kính cám ơn.

Sau chót, trong hình giáo sư Trần Quang Đệ chụp cùng môn sinh bệnh viện Chợ Rấy quý vị nào nhận ra tên các sinh viên đứng ở hàng sau xin cho người viết biết. Kính cám ơn.

TXN

Nhìn lại Trường Y khoa Đại học Sài Gòn với GS Phạm Biểu Tâm

 http://nguyenvantuan.org/tin-tuc/nhin-lai-truong-y-khoa-dai-hoc-sai-gon-voi-gs-pham-bieu-tam.aspx#.U3NsNYF_tIc



Xin giới thiệu các bạn một bài của GS Nghiêm Đạo Đại viết về GS Phạm Biểu Tâm. Đây là một bài viết trong Tập san Y sĩ 201 chủ đề GS Phạm Biểu Tâm do BS Ngô Thế Vinh biên tập. Tập san sẽ phát hành nay mai. Bài viết làm sống lại một số kỉ niệm của GS Đại với GS Tâm.




NHÌN LẠI TRƯỜNG Y KHOA ĐẠI HỌC SÀI GÒN VỚI GIÁO SƯ PHẠM BIỂU TÂM

NGHIÊM ĐẠO ĐẠI
Nguyên Giáo sư Giải phẫu ĐH MCP / Hahneman / Drexel
Pittsburgh, PA.




      Khoảng đầu tháng 12, 2013, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Thầy Phạm Biểu Tâm, anh Ngô Thế Vinh có nhã ý gửi cho tôi đọc bản thảo “Tìm lại thời gian đã mất: Tưởng nhớ Giáo sư Phạm Biểu Tâm”, từ lúc đó anh Vinh đi tới quyết định phụ giúp anh chủ bút Tập San Y Sĩ trong số báo chủ đề “Trường Y khoa Đại học Sài gòn với Giáo sư Phạm Biểu Tâm”. 
      Bài viết này nói lên kỷ niệm những năm theo học Thầy tại bệnh viện Bình Dân và Trường Y, cùng ghi chép lại thành quả gặt hái của Y khoa Đại học Sài Gòn dưới thời Thầy Phạm Biểu Tâm.

THÂN THẾ, GIA ĐÌNH SỰ NGHIỆP
      Thầy sinh ngày 13 tháng 12 năm 1913 tại làng Nam Trung, Phú Vang, Thừa Thiên trong một gia đình khoa bảng. Thầy thi vào trường Y Dược Hà Nội năm 1932. Sau 15 năm dùi mài y học, Thầy trình luận án “Sự Du nhập của Y học Tây Phương vào Viễn Đông – Introduction de la Médecine Occidentale  en Extrême Orient”, nói lên sự quan trọng của Tây Y trong các nước chỉ biết y học cổ truyền. Trong 8 năm nội trú, Thầy đã lĩnh hội được các tinh túy của giải phẫu toàn khoa, tiết niệu, tiểu nhi, ung thư, chỉnh hình, lồng ngực… sau này trở thành các bộ môn riêng biệt.
      Năm 1948 ở tuổi 35, Thầy được cử sang Pháp tu nghiệp và trúng tuyển Thạc sĩ Y khoa (Professeur Agrégé des Universités) tại Paris. Thầy trở về nước giảng dạy tại Đại học Y Dược Hà Nội, kiêm nhiệm chức giám đốc bệnh viện Yersin (nhà thương Phủ Doãn), cùng đảm trách chức vụ phó giám đốc trường Quân Y Việt Nam mới được thành lập với cấp bậc y sĩ Trung tá.
      Sau khi hiệp định Genève chia đôi đất nước năm 1954, Thầy và gia đình cùng một triệu người di cư vào miền Nam tìm tự do. Để đáp ứng với làn sóng người tỵ nạn, bệnh viện Bình Dân (tên Thầy đặt cho bệnh viện) được xây cất bởi các nhà hảo tâm dẫn đầu bởi bác sĩ Trần Hàm Nghiệp. Bệnh viện được đặt dưới quyền trường Y Dược Nha khoa và tiếp nhận những nhân viên di cư từ bệnh viện Phủ Doãn.
      Ngày 11 tháng 5 năm 1955, Thầy được đề cử làm Khoa trưởng trường Y Dược Đại học Sài Gòn. Các giáo sư người Pháp cũng bắt đầu rời khỏi Việt Nam.
      Ngày 31 tháng 7 năm 1967, Thầy từ nhiệm chức vụ Khoa trưởng để trở lại chức vụ trưởng khu Giải phẫu B, sau khi hoàn tất và đặt nền móng cho một Trung tâm Giáo dục Y khoa tối tân và một ban giảng huấn hùng mạnh.
      Năm 1975 Thầy kẹt lại Sài Gòn và tiếp tục dìu dắt, đào tạo nhiều thế hệ y sĩ trẻ tới khi về hưu năm 1984. Năm 1989, Thầy định cư với gia đình tại Tustin, California, Hoa Kỳ.  Thầy mất ngày 11 tháng 12 năm 1999, hưởng thọ 86 tuổi.

PHONG CÁCH, TRÁCH NHIỆM VÀ GIẢNG DẠY
     Thầy sống một cuộc đời bình dị và thanh bạch. Thầy có dáng người nhỏ nhắn, nhanh nhẹn. Nét mặt đăm chiêu khắc khổ với đôi mắt sáng ngời. Quanh năm suốt tháng hình như Thầy chỉ mặc một bộ đồ xám thẫm, một cái sơ mi ngắn tay với cái cà vạt thắt nút nhỏ. Thầy ít nói, nhưng khi bắt chuyện rồi, Thầy cho ta cảm giác rất gần, cởi mở. Tôi chưa nghe Thầy lên tiếng với ai song cách trách cứ nhỏ nhẹ thấm thía cũng đủ làm người đối thoại ngột ngạt và nhớ đời. 
      Trên cương vị lãnh đạo trường Y, Thầy làm việc có công tâm, nghiêm túc và nhân hậu. Khi tôi lên năm thứ nhất thì nghe nói Thầy quyết tâm chống lại áp lực để cho cô Ngô Đình Lệ Thủy, cháu gái của Tổng Thống Ngô Đình Diệm vào học lớp PCB vì cô không đủ điểm trong kỳ thi tuyển. Năm năm sau, nghe nói trong một kỳ thi ra trường, Thầy nghiêm nghị hỏi một anh sinh viên: “Hôm qua có cô X tới thưa chuyện với tôi rằng anh đã có liên hệ mật thiết với cô ta rất lâu, nay khi cô ta có bầu thì anh lại thay đổi ý kiến. Bây giờ anh tính làm sao? Anh phải nhớ rằng người bác sĩ luôn luôn đứng đắn, từ bi và tha nhân. Anh nghĩ có nên tiếp tục làm bác sĩ không? Anh sinh viên xanh mặt. Sau đó nghe nói anh kết duyên cùng cô bạn đó và hai người sống với nhau rất hạnh phúc. 
      Cũng như năm xưa (1948) khi người sinh viên thi clinic cuối cùng ra khỏi phòng thì cô thư ký của Thầy bước vào báo tin là phòng mổ trên lầu đã sắp sẵn chỉ còn chờ Thầy mà thôi. Thầy rón rén đứng dậy, nhăn mặt rồi trèo cầu thang lên lầu. Cô thư ký cho mọi người biết là Thầy có triệu chứng đau ruột dư từ mấy hôm trước nhưng Thầy quyết định chấm thi xong rồi mới lo chuyện của Thầy, vì “các anh ấy phải biết kết quả sớm để lo liệu trước”. Tôi được biết sau đó là Thầy bị abcès appendiculaire và phải nằm bệnh viện rất lâu vì ruột dư đã bể vì Thầy chờ quá lâu. Tôi không bao giờ quên được câu chuyện này. 
      Ngược lại, đối với người bệnh thì Thầy không bao giờ chần chờ  phút nào và để tên bệnh nhân trên bảng mổ ngay khi có bằng chứng chụp hình quang tuyến X. Thầy hay giải phẫu cắt bao tử (gastrectromie à la Polya hay Billroth II), 5 - 6 ca một tuần. Thầy mổ rất đẹp và nhanh. Tính sơ trong 29 năm (1955-1984) Thầy đã giải phẫu cho khoảng 7500 bệnh nhân ung loét bao tử, một kinh nghiệm khó có được. Trong suốt bao nhiêu năm học và làm tại bệnh viện Bình Dân, tôi chưa bao giờ gặp biến chứng xì tá tràng (duodenal stump leak) rất nguy hiểm cho tính mạng bệnh nhân cho đến khi tu nghiệp và dạy học ở ngoại quốc. Trong khi giải phẫu, Thầy bàn nhiều về cách thức giải quyết một chỗ mổ “dính và khó” một cách an toàn bằng cách “ăn cháo nóng húp quanh”. 
      Sau nửa năm làm nội trú với Thầy, có lúc tôi tự hỏi “không biết đến bao giờ Thầy mới để mình mổ một mình”, vì trong bất kỳ một phẫu thuật nào, lớn hay nhỏ, Thầy đều làm từ đầu đến cuối: từ lúc trải khăn mổ, rạch da, đến khi mổ, đóng thành bụng, băng vết mổ, đẩy bệnh nhân ra phòng hồi sức, viết protocole opératoire rất tỉ mỉ, và đọc lại cho mọi người nghe để ôn lại những gì đã làm trong cuộc giải phẫu. Có biết đâu là Thầy đã nhiếp tâm truyền nghề cho mình từ lâu rồi, ngày này sang ngày khác, tháng này qua tháng khác. Một hôm, thay vì lên phòng mổ khoảng 11 giờ (hàng ngày tôi thường mổ một  hay hai trường hợp nhỏ như sa ruột, lấy túi mật trước khi phụ mổ Thầy) thì Thầy gọi điện thoại lên nói là Thầy bận có khách, cứ mổ đi đừng có chờ Thầy. Như một con chim có đủ lông cánh, tôi cất cánh ngay. Tôi mổ, và rất tự nhiên vô tư giảng giải cho người phụ mổ từ cách đi đứng, cách tiếp đưa dây cột, cách cột dây làm sao cho đẹp cho đúng. Nửa chừng khi thấy chị Vân tiếp viên dụng cụ ra hiệu, tôi nhìn ngang và thấy Thầy đứng ngay sau lưng tôi từ lúc nào không biết, gật gù với ánh mắt hài lòng. Mổ xong tôi tự động chuyển bệnh, đẩy giường bệnh ra phòng hồi sức làm tiếp nhiệm vụ. Cho đến nay 40 năm sau, tôi vẫn giữ thói quen đó. Tôi đã thấm nhập những điều dậy dỗ của “lò Bình Dân”. Quả như vậy, sau khi vào ban giảng huấn Đại học Iowa bảy năm, trường Medical College of Pennsylvania / Hahneman / Drexel Pittsburgh gần 3 thập niên, tôi đã cảm nhận được là mình có phước rất lớn được học những tinh túy của các Thầy ở bệnh viện Bình Dân. Các Thầy đã trao cho tôi một hành trang đầy đủ để xử dụng trong suốt cuộc đời đi dậy học. 
     Như để chứng minh sự hoàn hảo của giải phẫu hồi đó, trong Đại hội Y sĩ tại Orlando, Florida, Cô Phạm Biểu Tâm đã kể lại chuyện về Thầy đã mổ cho một ông Đại sứ Trung Hoa Dân quốc. Để bày tỏ lòng biết ơn, vị Đại sứ này đã tặng Thầy bức tranh “Hoa Đà mổ Quan Công” để vinh danh Thầy như một Hoa Đà tái thế, chứng tỏ Thầy “mát tay” như thế nào.  Cô cũng đã tặng lại cho Đại hội bức tranh này.   
      Thầy luôn luôn có mặt khi học trò gặp khó khăn. Một đêm trực tôi mổ cho một bà bệnh nhân gầy còm bị tắc ruột với triệu chứng đặc biệt của sa ruột qua lỗ bít (obturator hernia) mà tôi chỉ được biết qua sách vở mà thôi. Lúc đó khoảng một giờ sáng, tôi bí quá phải mời Thầy tới, theo lời yêu cầu của bác sĩ thường trú Nguyễn Quang Huấn, y sĩ khu giải phẫu ung thư thời đó. Chờ không tới 20 phút thì Thầy bước vào phòng mổ, hỏi vài câu rồi đi rửa tay, mặc áo và đeo găng. Thầy xem xét chỗ ruột sa và đồng ý với chẩn bệnh giải phẫu nhưng Thầy lại nói thêm “tôi chưa từng gặp trường hợp này bao giờ cả.” Hai Thầy trò bàn cãi về cách bít lỗ sa ruột. Thầy còn nói trước khi ra về “anh kiếm thêm sách báo xem người ta chữa làm sao và cho tôi biết nhé.” Sau cuộc tra cứu, bài tường trình đã được đăng trong báo Acta Medica Vietnamica năm 1970. Tôi vừa mới biết gần đây, tờ báo của trường Y khoa Sài Gòn này được sáng lập bởi Thầy năm 1957.

XÂY DỰNG TRUNG TÂM GIÁO DỤC Y KHOA SÀI GÒN
      Từ thuở đầu trường Đại học Y khoa được thành lập năm 1902 bởi chính quyền bảo hộ Pháp như là một chi nhánh Đông Dương của Đại học Y khoa Paris. Trường được các giáo sư danh tiếng như Alexandre Emil John Yersin, Pierre Huard… đảm trách. Cũng vì lẽ đó mà khi Viện trợ Mỹ được dưa vào Việt Nam sau năm 1954, Thầy và ban Giảng huấn trường Y khoa Đại học Sài Gòn cũng như AMA đã có những quyết định rất thận trọng, chỉ chấp nhận và làm những công tác tuyệt hảo mà thôi. 
      Trung Tâm Giáo Dục Y khoa được nghiên cứu bởi bác sĩ Robert Jason, khoa trưởng trường Đại học Howard ở District of Columbia năm 1957, dưới sự chỉ định của USAID. Trường được thiết kế bởi kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, giải khôi nguyên Kiến trúc La Mã và cũng là người đã vẽ Dinh Độc lập tại Sài Gòn. Viên đá đầu tiên được đặt bởi Tổng thống Ngô Đình Diệm năm 1962, ngôi trường mới hoàn tất năm 1966. Trong kỷ nguyên mới này, Thầy và Hội đồng Khoa phải đương đầu với nhiều vấn đề liên quan tới các mục sau đây:

      CHUYỂN NGỮ
      Với sự bùng nổ của các môn sinh lý, sinh hoá và sinh học vào thập niên 1950-1960, các Đại học Y tại Hoa kỳ đã chuyển mình và đưa các bộ môn này vào Y học. Trong khi đó thì các nước ở Châu Âu, kìm hãm bởi Thế chiến, đã không theo kịp đà tiến triển, nên Anh ngữ tất nhiên trở thành sinh ngữ của khoa học và y học. Lại nữa vì tiếng Việt chưa đủ danh từ khoa học nên việc xử dụng Anh ngữ làm chuyển ngữ được chấp thuận. Với thư viện y khoa được xây cất và sách vở được cập nhật đầy đủ, y học bắt đầu được giảng dạy bằng Anh ngữ  từ năm 1965. Đến năm 1968, sinh viên Y khoa viết và thông thạo sinh ngữ này.

      QUY CHẾ ĐẠI HỌC
      Đây là vấn đề nan giải nhất vì có sự tranh chấp giữa các cá nhân tu nghiệp tại Hoa Kỳ, Pháp, Đức. Nói một cách đơn giản, trường Y lúc đó có ngạch giáo sư thực thụ, thường là giáo sư Thạc sĩ đỗ khoảng thập niên 1950-1960 và trình luận án khoảng 10-15 năm trước. Tiếp theo đó là giáo sư diễn giảng ra trường được khoảng từ 5 tới 10 năm.  Sau đó là giáo sư uỷ  nhiệm du học tại ngoại quốc và cuối cùng là giới giảng nghiệm viên ra trường trong nước hoặc chỉ có bằng tiến sĩ khoa học căn bản nhưng không phải là y sĩ. Tình trạng hồi đó nhá nhem nên có người chưa học hết chuyên môn đã được làm trưởng khu. 
      Quy chế này cũng không khác biệt mấy so với thể chế ngày nay tại Đại học Iowa, Medical College of Pennsylvania, Pittsburgh và Mayo Clinic. Thường các bác sĩ ra trường sau khi học chuyên môn (fellowship) được làm huấn luyện viên hay nghiệm chế viên (instructor hay assistant). Sau một năm thử lửa, người đó lên làm giáo sư uỷ nhiệm (assistant professor) và có thời gian từ 5 tới 7 năm để nhậm chức giảng sư (associate professor). Đương sự phải có nhiều khảo cứu trình bày tại các hội thảo quốc nội trong một thời gian từ 7 đến 10 năm mới được lên chức giáo sư. Chức vụ này đòi hỏi đương sự phải có danh tiếng trên trường quốc tế và được giới thiệu của 5 đến 7 vị giáo sư tại Hoa kỳ vả Gia Nã Đại gửi cho hội đồng khoa. Giáo sư thực thụ là mức cuối cùng của ngành giáo sư Y khoa Đại học. Hàng năm nhân viên giảng huấn phải có tối thiểu 5-10 bài khảo cứu y khoa được đăng tải. 
      Hồi đó một Hội đồng Qui chế tại Đại học Y khoa Sài Gòn đã được thiết lập để xét lại Quy chế, xong chưa bắt đầu làm việc thì biến cố 1975 xảy ra. 

      BAN GIẢNG HUẤN
      Đào tạo nhân viên giảng huấn là một công việc rất khó khăn và phức tạp. Thập niên 1960-1970 sôi động vì biến cố chính trị và khủng hoảng chiến tranh. Tất cả nam sinh viên ra trường đều bị trưng tập nên ban giảng huấn không đủ nhân lực. Trong thời kỳ này, không có một cuộc tuyển chọn nhân viên giảng huấn được tổ chức. Trong khi đó thì Bộ Y tế phải lo cho sức khoẻ dân chúng  và y tế phòng ngừa, cũng cần thêm người nhưng lại không có thực   lực nên không giúp được gì nhiều hơn. Tuy vậy các cố gắng của trường Y khoa và AMA cũng mang lại kết quả khả quan. Các môn khoa học căn bản như cơ thể học, sinh hoá, vi trùng và ký sinh trùng, bệnh lý học… Các bộ môn khoa học lâm sàng như sản phụ, nhi khoa… được sự cộng tác chặt chẽ của nhiều bộ môn danh tiếng tại Hoa Kỳ. Đặc biệt các bộ môn như gây mê, nội khoa, sản phụ khoa, nhi khoa, giải phẫu tổng quát, quang tuyến… đã gửi được nhiều nhân viên giảng huấn sang tu nghiệp tại Hoa Kỳ cùng cung cấp những chứng chỉ chuyên môn cho học viên. 
      Đã có 171 nhân viên giảng huấn danh tiếng  Hoa Kỳ từ các bộ môn đã nhiệt tâm góp sức xây dựng Trung Tâm Giáo Dục Y khoa, trong đó có 22 trưởng khu, 37 nhân viên dài hạn và 112 nhân viên làm việc ngắn hạn. Một trăm bốn mươi nhân viên giảng huấn trường Y khoa Sài Gòn đã sang tu nghiệp tại Hoa Kỳ.  Bẩy nhân viên giảng huấn trẻ tu nghiệp tại Mỹ về giữ chức vụ giáo sư uỷ nhiệm. Sau đó có thêm 6 vị đến từ các nước khác. Từ 1967 đến 1975, số nhân viên giảng huấn tăng từ 91 đến 195.

KẾT LUẬN
      Nhìn lại nền Y học Việt Nam trước và sau 1955 ta thấy một bước tiến lớn lao. Trong thời kỳ Pháp thuộc, số nhân viên giảng huấn đếm được trên đầu các ngón tay và y khoa chủ yếu dựa trên lâm sàng. Số bác sĩ ra trường khoảng 354 người tính theo số luận án đệ trình. Sau 1955 trường Y khoa Sài Gòn đã thay đổi hoàn toàn với gần 200 nhân viên giảng huấn và khoảng 2000 luận án được đệ trình. Y khoa được giảng dạy theo đà tiến triển y khoa quốc tế trong một trường sở đầy đủ tiện nghi. 
      Khác biệt này có được là nhờ Thầy Khoa trưởng Phạm Biểu Tâm mà ít ai để ý tới và vinh danh, vì Thầy làm nhiều và nói lại rất ít. Hồi trẻ Thầy thường ngâm câu thơ “trăm năm sau có cũng như không” nhưng Thầy đã để lại một di sản quý báu cho cả ngàn học trò cùng cả ngàn hậu duệ của họ để mang lại sức khỏe cho đồng bào. Một di sản đức độ áp dụng muôn đời cho mọi người.

NGHIÊM ĐẠO ĐẠI
Để tưởng nhớ Thầy
Westminster, 21/ 02/ 2014

Tài liệu tham khảo:
1/ Đào Hữu Anh: Y khoa Đại học Sài Gòn. Nhìn lại 60 năm lịch sử. Tập San Y Sĩ số 190,82, tháng 7-2011
2/ Phạm Tu Chính: Một chút gì để nhớ. Trường Đại học Y khoa Hà Nội-Sài Gòn (1902-1975), Tập San Y Sĩ số 200,13,tháng 1-2014
3/ Trường Y khoa Sài Gòn: ykhoasaigon.com ngày 10 tháng 12, 2014
4/ C.H. W. Ruhe, N.W. Hoover, I. Singer: Saigon Medical School. An Experiment in International Medical Education. An Account of the  AMA’s Medical Education Project in South Vietnam, 1966-1975. AMA  1988.